II. Thật sự đạt được những ước mơ tuổi thơ – Bài giảng cuối cùng (phần 3)

Tác giả: Randy Pausch
Người dịch: Vũ Duy Mẫn

4

Xổ số Cha Mẹ

Tôi đã trúng xổ số cha mẹ.

Tôi được sinh ra cùng với một vé số trúng thưởng, đó là lý do chính để tôi có thể đạt được những ước mơ tuổi thơ của mình.

Mẹ tôi là một giáo viên dạy tiếng Anh khá khắt khe và cổ điển. Bà nghiêm khắc với học sinh, chấp nhận việc các phụ huynh ca thán bà đã đòi hỏi quá nhiều ở con cái họ. Làm con, tôi biết về những yêu cầu cao của mẹ tôi, và thấy đó là vận may của tôi.

Cha tôi là nhân viên y tế, ông tham gia Thế Chiến II và đã dự trận đánh Bulge[1].  Ông lập một nhóm phi vụ lợi (non-profit group) giúp trẻ em nhập cư học tiếng Anh. Để kiếm sống, ông có một doanh nghiệp nhỏ bán bảo hiểm ô tô trong nội thành Baltimore. Khách hàng của ông phần lớn là những người nghèo có hồ sơ tín dụng kém, hoặc ít tiền. Ông luôn cố tìm cách kiếm ra bảo hiểm để họ được phép lái xe.

Với cả triệu lý do, cha tôi là vị anh hùng của tôi.

Tôi lớn lên khá thoải mái trong một gia đình trung lưu ở thị trấn Columbia[2], bang Maryland. Tiền chưa bao giờ là một vấn đề trong nhà, chủ yếu do cha mẹ tôi không có nhu cầu chi tiêu nhiều. Họ sống rất thanh đạm. Chúng tôi ít đi ăn tiệm, tới rạp xem phim một hoặc hai lần mỗi năm. “Các con nên xem ti vi,” cha mẹ tôi thường nói. “Nó không tốn tiền. Hoặc tốt hơn, các con nên đến thư viện mượn sách mà đọc.”

Khi tôi hai tuổi và chị tôi bốn tuổi, mẹ đưa chúng tôi đến rạp xiếc. Lúc lên chín, tôi lại muốn đi xem. “Con không cần phải đi nữa,” mẹ tôi nói. “Con đã xem xiếc rồi còn gì.”

Theo chuẩn mực bây giờ, điều đó có vẻ như một sự áp bức, nhưng thực ra với cách sống như vậy, chúng tôi đã có một tuổi thơ thật tuyệt vời. Tôi thấy mình thành đạt trong cuộc sống như ngày nay, chính bởi tôi có một người mẹ và một người cha đã làm rất nhiều việc đúng đắn.

Chúng tôi không mua sắm nhiều. Nhưng chúng tôi lại nghĩ về mọi thứ. Cha tôi là người ham hiểu biết thời sự, lịch sử và mọi điều liên quan tới cuộc sống. Lớn lên, tôi nhận thấy có hai loại gia đình:

1)      Loại gia đình cần đến từ điển trong bữa ăn tối.

2)      Loại gia đình khác.

Chúng tôi thuộc loại thứ nhất. Hầu như mỗi tối, chúng tôi đều phải tham khảo cuốn từ điển để trên giá sách cách bàn ăn chừng sáu bước. “Nếu mình có câu hỏi,” cha mẹ tôi nói, “thì cần phải tìm câu trả lời.”

Thói quen bản năng trong gia đình tôi là không ngồi yên như những kẻ lười nhác rồi ngạc nhiên. Chúng tôi biết một cách khác tốt hơn: mở bách khoa toàn thư, mở từ điển, mở đầu óc của mình.

Cha tôi cũng là người kể chuyện rất tài, ông luôn nói mỗi câu chuyện cần được kể với một lý do. Ông thích những câu chuyện đã trở thành châm ngôn về đạo đức sống. Ông là bậc thầy về loại chuyện như vậy, và tôi đã tiếp thu được những kỹ xảo đó của ông. Bởi vậy chị tôi, Tammy, khi xem trực tuyến bài giảng cuối cùng của tôi, chị đã thấy miệng tôi chuyển động và nghe một giọng nói, nhưng không phải là của tôi. Đó là của cha. Chị biết tôi đã sáng tạo lại khá nhiều điều chọn lọc trong sự thông thái của cha. Tôi không phủ nhận điều đó. Thực ra, lúc đó tôi có cảm giác như đã đội lốt cha tôi trên bục giảng.

Tôi trích dẫn cha tôi hầu như mỗi ngày. Một phần bởi nếu bạn nói về sự khôn ngoan của chính bạn thì người khác thường khó tiêu hóa; còn nếu bạn nói về sự thông thái của một nhân vật thứ ba, thì lại tỏ ra là mình ít kiêu ngạo và dễ được chấp nhận hơn. Tất nhiên, khi có một người như cha tôi ở phía sau hậu thuẫn, bạn sẽ trích dẫn ông mỗi khi có dịp.

Cha tôi đã dạy tôi cách thương lượng trong cuộc sống. Ông nói những điều đại loại: “Không bao giờ nên làm một quyết định, cho tới khi mình bắt buộc phải làm.” Ông cũng nhắc nhở, ngay cả khi ở trên thế mạnh, trong công việc hay trong các mối quan hệ, ta vẫn phải cư xử một cách công bằng. “Bởi khi ngồi ở ghế lái xe,” ông nói, “không có nghĩa là con phải cán chết người khác.”

Sau này, tôi thấy mình đã trích dẫn cha tôi ngay cả những điều mà ông không nói. Theo cách nghĩ của tôi, những lời uyên bác đó vẫn có thể là của cha tôi, dù ông chưa nói ra. Với tôi, ông là người biết mọi thứ.

Mẹ tôi cũng là người hiểu biết nhiều. Suốt cuộc đời, bà luôn thấy có bổn phận dẫn dắt tôi. Và tôi biết ơn về điều đó. Cho đến nay, nếu ai đó hỏi rằng hồi nhỏ tôi thế nào, bà mô tả tôi “tỉnh táo, nhưng không quá sớm phát triển.” Ngày nay chúng ta sống trong thời đại mà các bậc cha mẹ luôn khen con mình là thiên tài. Còn mẹ tôi, coi “tỉnh táo” đã đủ như một lời khen.

Khi làm luận án tiến sĩ, tôi lấy môn “lý thuyết đầy đủ,”[3] mà giờ đây tôi có thể coi đó là cái tồi tệ thứ nhì trong đời, đứng sau hóa trị liệu. Khi ca thán với mẹ tôi về việc các bài kiểm tra khó và khủng khiếp ra sao, bà ghé đầu, xoa tay tôi và nói, “Mẹ biết con cảm thấy thế nào rồi. Và hãy nhớ là khi bằng tuổi con, cha còn phải đánh nhau với quân Đức.”

Sau khi tôi nhận bằng tiến sĩ, mẹ tôi đã thêm thắt vào khi giới thiệu: “Đây là con trai tôi. Cậu ấy là đốc tờ, nhưng không phải loại đốc tờ giúp người.”

Cha mẹ tôi biết cần làm gì để giúp đỡ mọi người. Ông bà luôn tìm kiếm những dự án lớn rồi dấn thân tham gia. Cha mẹ tôi đã cùng thuê ký thác một ký túc xá năm mươi phòng ở vùng nông thôn Thái Lan để giúp các em gái địa phương có điều kiện tiếp tục trường lớp, thay vì phải bỏ học làm gái điếm.

Mẹ tôi bao giờ cũng rất nhiệt thành với các việc từ thiện. Còn cha tôi luôn vui vẻ đóng góp tiền bạc, hài lòng với một chỗ ở bình dị thay vì có nhà ở ngoại ô, nơi ở mà chúng tôi ai cũng muốn. Theo nghĩa đó, cha tôi là “tín đồ Cơ đốc” chuẩn mực nhất mà tôi đã từng gặp. Ông cũng là một quán quân về bình đẳng xã hội. Khác với mẹ, cha tôi không nhiệt thành lắm với tôn giáo có tổ chức. (Chúng tôi là Presbyterians[4].) Ông tập trung quan tâm tới những tư tưởng lớn và coi sự bình đẳng là cao cả nhất trong tất cả các mục đích. Ông hy vọng rất nhiều ở xã hội, và những hy vọng của ông thường bị tiêu tan, xong ông vẫn tỏ ra lạc quan.

Ở tuổi tám mươi ba, cha tôi bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư máu. Biết là không còn sống được lâu, ông đã đăng ký hiến xác cho các nghiên cứu y học, và đóng góp tiền để chương trình từ thiện của ông ở Thái Lan có thể tiếp tục được tối thiểu sáu năm nữa.

Nhiều người dự nghe bài giảng cuối cùng của tôi đã bị thu hút bởi một bức ảnh tôi chiếu trên tường: Đó là bức ảnh chụp tôi trong bộ đồ ngủ, nằm nghiêng dựa lên khuỷu tay. Rõ ràng tôi là một cậu bé ưa những ước mơ lớn.

RP_02_s.jpg picture by duymanvu

Thanh gỗ chắn ngang người tôi là mặt trước của chiếc giường tầng. Cha tôi, một người khá khéo tay, đã tự đóng chiếc giường đó. Nụ cười trên khuôn mặt, thanh chắn gỗ, cái nhìn trong đôi mắt của cậu bé: bức ảnh đó nhắc rằng tôi đã trúng xổ số cha mẹ.

Các con tôi có một người mẹ hết mực yêu thương chúng, sẽ dẫn dắt chúng một cách xuất sắc trên đường đời, xong chúng sẽ không có một người cha. Tôi phải chấp nhận sự thật đó, nhưng vô cùng đau đớn.

Tôi biết rằng cha tôi sẽ đồng ý với các quyết định trong những tháng cuối cùng này của tôi. Ông chắc sẽ khuyên nhủ tôi cố thu xếp ổn thỏa mọi thứ cho Jai, dành nhiều thời gian nhất như có thể cho các con – những điều mà tôi đang làm. Tôi biết ông chắc cũng sẽ hiểu ý nghĩa của việc chúng tôi dọn tới Virginia.

Tôi cũng nghĩ rằng cha tôi chắc sẽ nhắc nhở tôi rằng con cái – hơn mọi thứ khác – cần biết là cha mẹ yêu thương chúng. Cha mẹ chúng không cần phải còn sống để chứng tỏ điều đó.

5

Thang máy ở nhà trệt

Sự tưởng tượng của tôi nhiều khi người khác khó có thể hình dung được. Cuối cấp phổ thông, tôi có một thôi thúc phải thể hiện những ý tưởng nung nấu trong đầu lên các bức tường ở phòng ngủ của mình.

“Con muốn vẽ các thứ lên tường ở phòng con,” tôi xin phép cha mẹ.

“Những thứ gì?” cha mẹ tôi hỏi.

“Những gì có ý nghĩa đối với con,” tôi nói. “Những gì con nghĩ là rất hay, rất độc đáo. Rồi ba mẹ sẽ thấy.”

Giải thích như vậy là đủ với cha tôi. Đó chính là điều thật tuyệt vời ở ông. Ông động viên sự sáng tạo của tôi bằng một nụ cười khích lệ. Ông ưa thích quan sát niềm say mê của tôi đơm hoa kết trái. Ông hiểu tôi và hiểu sự cần thiết được thể hiện mình theo những cách dị thường của tôi. Do vậy cha tôi nghĩ cuộc phiêu lưu vẽ lên tường của tôi là một ý tưởng thú vị.

Mẹ tôi thì chẳng mấy thích thú, nhưng cũng dễ dãi chấp thuận khi thấy tôi quá hào hứng. Bà cũng biết cha tôi thường thắng khi tranh cãi về những việc như thế này, do vậy bà thấy nên thỏa hiệp một cách hòa bình thì hơn.

Hai ngày liền, với sự giúp đỡ của chị tôi, Tammy, và bạn tôi, Jack Sheriff, tôi đã vẽ lên tường phòng ngủ của tôi. Cha tôi ngồi đọc báo trong phòng, đợi xem tác phẩm. Mẹ tôi thì đi lại dọc hành lang, vô cùng sốt ruột. Bà theo dõi, tìm cách ngó nghiêng, nhưng chúng tôi đã cố thủ ở trong phòng. Giống như người ta nói trong phim, đây là “một việc bí mật.”

Chúng tôi đã vẽ những gì?

Tôi vẫn muốn vẽ một công thức bậc hai lên tường. Trong một phương trình bậc hai, số mũ lớn nhất của ẩn số là bình phương. Là một cậu bé mê học, tôi nghĩ đó là thứ xứng đáng để kỷ niệm. Ngay bên cạnh cửa, tôi vẽ:

RP_03a_s.jpg picture by duymanvu

Jack và tôi vẽ một cửa thang máy màu bạc thật to. Phía bên trái cửa, chúng tôi vẽ các nút bấm “Lên” và “Xuống”, và phía trên cửa thang máy, vẽ một bảng với các số tầng từ một tới sáu. Số “ba” được vẽ chiếu sáng. Chúng tôi sống trong một ngôi nhà trệt – chỉ có một tầng – nên tôi đã thực hiện việc tưởng tượng ra sáu tầng. Nhìn lại, không hiểu sao tôi không vẽ tám hay chín tầng? Nếu tôi là người mơ ước lớn, sao thang máy của tôi lại dừng ở tầng ba? Không hiểu nổi. Có thể đó là một dấu hiệu của sự cân bằng giữa mơ ước và thực tiễn trong cuộc đời tôi.

Do khả năng mỹ thuật có hạn, tôi nghĩ tốt nhất là mình vẽ mọi thứ theo kiểu hình học cơ bản. Tôi vẽ một tàu hỏa tiễn đơn giản với cánh vây. Tôi vẽ chiếc gương Bạch Tuyết với dòng chữ: “Xin nhớ, nếu tôi nói với bạn rằng bạn là người đẹp nhất, thì tức là tôi nói dối!”

Trên trần, Jack và tôi viết dòng chữ “Tôi đang bị mắc kẹt trên gác xép!” Chúng tôi viết các chữ ngược chiều, để tạo cảm giác như chúng tôi đang bị cầm tù trên đó và đang cào cấu, gào lời kêu cứu.

Vì tôi thích chơi cờ vua, Tammy đã vẽ những quân cờ (chị là người duy nhất trong chúng tôi có năng khiếu vẽ). Trong khi chị vẽ những quân cờ, tôi vẽ một chiếc tàu ngầm đang bí mật lặn trong nước, bên dưới chiếc giường tầng. Tôi vẽ một chiếc kính ngắm trồi khỏi thành giường, đang quan sát các tàu của địch.

Tôi luôn thích thú với câu chuyện về hộp Pandora, nên Tammy và tôi vẽ lại câu chuyên theo cách nghĩ của chúng tôi. Pandora, trong thần thoại Hy Lạp, được trao cho một cái hộp chứa tất cả những tội lỗi của thế gian ở bên trong. Cô đã không tuân thủ lệnh cấm mở hộp. Khi cô mở hộp ra, tội lỗi đã lan truyền đi khắp nơi. Tôi luôn hướng tới kết cục lạc quan của câu chuyện: phần để lại dưới đáy hộp là “hy vọng.” Do vậy bên trong hộp Pandera, tôi viết chữ “Hy vọng.” Jack nhìn thấy và đã không nén nổi, viết thêm chữ “Bob” phía trên chữ “Hy vọng (Hope).” Khi bạn bè tới thăm phòng tôi, họ luôn phải suy nghĩ tí chút để hình dung tại sao lại có chữ “Bob” ở đó. Rồi ai cũng tròn mắt.

Đó là những năm cuối 1970, phong trào nhảy disco đang lan tràn. Tôi viết hàng chữ “Disco tởm” trên cửa phòng. Mẹ tôi thấy hơi thô tục, nên một ngày, khi tôi không để ý, bà lấy sơn xóa chữ “tởm.” Đó là thứ duy nhất bà sửa.

Bạn bè tôi tới chơi luôn rất ấn tượng về công việc tôi làm. “Tớ không tin nổi là bố mẹ cậu cho cậu vẽ như vậy,” bạn tôi thường nói.

Thật ra, lúc đó mẹ tôi chẳng mấy thích thú, nhưng bà đã không hề sơn lại căn phòng, kể cả hàng chục năm sau khi tôi đã đi khỏi nhà. Rồi, với thời gian, phòng tôi đã trở thành tiêu điểm để bà giới thiệu mỗi khi có khách tới thăm. Mẹ tôi đã bắt đầu cảm nhận: mọi người đều thấy đó là một điều thật hay, thật độc đáo. Và họ cũng nghĩ mẹ tôi thật hay, thật độc đáo vì đã cho phép tôi làm một việc như vậy.

Với những ai ở đây là cha mẹ, nếu con bạn muốn vẽ ở phòng ngủ của chúng, thì hãy cho tôi một đặc ân, để chúng làm điều đó. Mọi việc sẽ tốt đẹp. Đừng lo lắng là ngôi nhà của bạn sẽ bị mất giá.

Tôi không biết sẽ còn bao nhiêu lần về thăm lại ngôi nhà tuổi thơ của tôi nữa. Nhưng mỗi lần về đó là một phần thưởng đối với tôi. Tôi vẫn ngủ trên chiếc giường tầng do cha tôi đóng. Nhìn những bức tường kỳ thú, tôi nghĩ về việc cha mẹ đã cho tôi vẽ, và đi vào giấc ngủ với cảm giác thật may mắn và toại nguyện.

6

Đạt trạng thái không trọng lượng

Điều quan trọng là có những mơ ước cụ thể.

Khi tôi còn ở trường phổ thông, nhiều học sinh thích được trở thành nhà du hành vũ trụ. Với tôi, từ nhỏ tôi đã biết là NASA[5] sẽ không nhận tôi. Tôi nghe nói là các nhà du hành vũ trụ không thể mang kính cận. Điều đó không sao. Tôi chẳng muốn thành nhà du hành vũ trụ lắm, chỉ muốn được ở trạng thái nổi bồng bềnh.

NASA có một chiếc máy bay để giúp các nhà du hành vũ trụ thích nghi với trạng thái không trọng lượng. Mọi nguời gọi nó là “Sao chổi nôn,” mặc dù NASA đã đặt tên cho nó là “Kỳ quan Vô trọng lượng,” như một cố gắng làm lạc hướng sự chú ý đến hậu quả khó chịu của thiết bị.

Dù máy bay đuợc gọi với tên gì, thì đó vẫn là một thiết bị máy móc rất kỳ thú. Nó chuyển động theo hình cung pa ra bôn, và tại đỉnh của mỗi cung, bạn có khoảng hai mươi lăm giây trải nghiệm cảm giác tương đương với không trọng lượng. Khi máy bay lao xuống, bạn có cảm giác như đang rơi tự do, nhưng lại bị kéo lại, bay vòng quanh.

Uớc mơ của tôi trở thành khả thi, khi NASA có chương trình cho sinh viên đại học đăng ký các đề tài nghiên cứu thí nghiệm trên chiếc máy bay này. Năm 2001, nhóm sinh viên trường Carnegie Mellon của tôi đã đăng ký đề án sử dụng hiện thực ảo (virtual reality[6]).

Không trọng lượng là một hiện tượng đặc biệt, khó nhận thức được một cách thấu đáo, khi cả đời bạn sống trên trái đất. Ở trạng thái không trọng lượng, tai trong, bộ phận điều khiển sự thăng bằng, sẽ không hoàn toàn đồng bộ với những gì mà mắt bạn nhìn thấy. Và kết quả là bạn buồn nôn. Liệu hiện thực ảo có thể giúp khắc phục được điều này? Đó là câu hỏi trong đề án của chúng tôi, và đề án đã được chọn. Chúng tôi được mời tới trung tâm vũ trụ Johnson ở Houston để đi thử máy bay.

Có lẽ tôi là người phấn khích hơn bất kỳ sinh viên nào của tôi. Nhưng ngay sau đó, tôi nhận được tin không vui: NASA tuyên bố rất rõ ràng là, trong mọi trường hợp, giáo viên không được bay cùng sinh viên.

Tôi vô cùng buồn chán, nhưng không vì thế mà chịu bó tay. Tôi sẽ phải tìm một con đường để đi quanh bức tường gạch này. Và tôi đã tìm thấy một cách: vì luôn coi trọng việc quảng bá, NASA sẽ cho phép một nhà báo địa phương nơi sinh viên học tới tham gia bay cùng.

Tôi gọi điện cho một viên chức NASA để hỏi số máy fax. “Anh sẽ fax cái gì cho chúng tôi?” ông ta hỏi. Tôi giải thích: đơn từ chức cố vấn sinh viên và đơn xin làm nhà báo.

“Tôi sẽ tháp tùng các sinh viên của tôi trong vai trò mới là một thành viên của giới truyền thông,” tôi nói.

Và ông ta đáp, “Việc đó khá lộ liễu, anh có thấy thế không?”

Tôi chỉ muốn trôi bồng bềnh …

“Chắc chắn rồi,” tôi nói, nhưng tôi cũng hứa với ông ta rằng tôi sẽ đưa các thông tin về thí nghiệm của chúng tôi lên mục thời sự của các trang Web, và sẽ gửi phim về các hoạt động hiện thực ảo của chúng tôi tới các nhà báo chính thống khác. Tôi biết là tôi có thể làm tốt được điều này, và đó là thương lượng thắng – thắng cho cả đôi bên. Ông ta đã đưa số máy fax cho tôi.

Ở đây có thêm một bài học: Hãy mang cái gì đó tới bàn thương lượng, bởi nó sẽ làm cho bạn được đón tiếp nhiệt thành hơn.

Kinh nghiệm của tôi với trạng thái không trọng lượng là vô cùng kỳ diệu (và tôi không bị nôn). Tôi có bị ngã và bị va đập chút ít, bởi khi kết thúc giai đoạn hai mươi lăm giây, lúc sức nặng trở lại trong máy bay, bạn sẽ thật sự trở nên nặng gấp đôi trọng lượng của bạn. Bạn có thể rớt xuống khá mạnh. Bởi vậy chúng tôi luôn luôn được nhắc nhở: “Đặt chân xuống!” Chắc chắn là bạn không muốn ngã dập cổ rồi.

Vậy là tôi đã lên được chiếc máy bay để trải nghiệm trạng thái không trọng lượng, gần bốn mươi năm sau khi ước mơ được trôi nổi bồng bềnh trở thành một trong những mục tiêu sống của tôi. Nó cũng chứng tỏ rằng, nếu tìm được một kẽ hở, bạn rất có thể tìm được một cách để trôi qua.

7

Không vào được Liên đoàn Bóng bầu dục Quốc gia

Tôi yêu thích môn bóng bầu dục [7]. Nhất là việc chặn cản bóng. Tôi bắt đầu chơi từ năm chín tuổi, và môn bóng bầu dục đã rèn luyện tôi, đã giúp hình thành con người tôi như hiện nay. Mặc dù không vào được Liên đoàn Quốc gia, nhưng đôi khi tôi nghĩ, tôi đã đạt được nhiều thứ hơn qua việc theo đuổi ước mơ này mà không hoàn tất được nó, so với việc theo đuổi và hoàn tất được nhiều ước mơ khác.

Sự gắn bó với môn bóng khởi nguồn khi cha tôi lôi kéo, thậm chí bắt ép và hò hét để tôi tham gia một đội bóng. Lúc đầu tôi hoàn toàn không muốn làm việc đó. Tôi yếu đuối, nhút nhát, và là đứa nhỏ nhất trong đám trẻ. Nỗi lo lắng đã trở thành sự sợ hãi khi tôi gặp huấn luyện viên, Jim Graham. Ông to lớn, cao hơn mét chín, vĩ đại như một bức tường. Ông từng chơi ở vị trí hậu vệ lót của đội Penn State[8] và là người vô cùng bảo thủ. Xin nhấn mạnh rằng, ông thật sự bảo thủ, thí dụ ông coi việc ném bóng về hướng vạch cuối của đối phương là một lối chơi mánh khóe.

Ngày tập đầu tiên, chúng tôi đều hãi tới chết. Thêm nữa, ông không mang bóng theo. Một cậu bé rốt cuộc đã thay mặt chúng tôi hỏi. “Xin lỗi ông. Sao không có bóng?”

Và ông đã trả lời, “Chúng ta đâu cần bóng.”

Tất cả chúng tôi đều im lặng, suy nghĩ về điều đó.

“Có bao nhiêu cầu thủ trên sân bóng?” ông hỏi chúng tôi.

“Mười một người mỗi đội,” chúng tôi trả lời. “Như vậy tổng cộng là hai mươi hai.”

“Và bao nhiêu người chạm bóng tại một thời điểm?”

“Một người trong số đó.”

“Đúng!” ông nói. “Vậy chúng ta sẽ tập những gì hai mươi mốt người kia cần làm.”

Nền tảng. Đó là phần thưởng lớn nhất mà huấn luyện viên Graham đã ban phát cho chúng tôi. Nền tảng, nền tảng, nền tảng. Là một giáo sư đại học, tôi thấy đây là một bài học mà rất nhiều sinh viên đã lờ đi, và chính họ luôn luôn là những người phải chịu thiệt hại. Bạn phải trau dồi nền tảng trước nhất, bởi nếu không, bạn sẽ không làm nổi bất kỳ một thứ cao siêu nào khác.

* * *

Huấn luyện viên Graham rất khắt khe với tôi. Tôi còn nhớ về một bài tập. “Em làm sai hoàn toàn rồi, Pausch. Quay trở lại! Làm lại!” Và tôi cố làm động tác mà ông muốn. Nhưng vẫn không đủ. “Pausch! Sau giờ tập, em sẽ phải bị phạt làm chống tay.”

Khi giải tán, một trợ lý huấn luyện viên bước tới tôi. “Huấn luyện viên Graham hành em khá dữ có đúng không?” ông hỏi.

Tôi gần như không còn nổi sức để thốt lên tiếng “vâng.”

“Đó là một điều tốt,” ông trợ lý nói. “Khi em làm sai mà không còn ai nói với em một điều nào nữa, thì có nghĩa là họ đã bỏ em.”

Bài học này đã lưu lại trong tôi suốt cuộc đời. Khi bạn thấy bạn làm điều gì đó xấu xa mà không ai thèm nói với bạn nữa, thì đó chắc chắn là chỗ không tốt cho bạn. Có thể bạn không muốn nghe, nhưng những lời phê bình thường cho bạn biết mọi người vẫn còn yêu mến bạn, quan tâm tới bạn, và muốn giúp bạn tiến bộ.

Ngày nay, chúng ta nói rất nhiều về việc tạo cho trẻ em lòng tự trọng. Nhưng, đó không phải là thứ có thể ban phát, mà là thứ phải tự rèn luyện và phát triển. Huấn luyện viên Graham không chiều chuộng chúng tôi. Lòng tự trọng? Ông biết chỉ có một cách để dạy trẻ tự phát triển phẩm chất này: Hãy đưa cho các em một việc mà các em không làm nổi ngay, các em sẽ phải phấn đấu cật lực cho tới khi làm được việc đó, và liên tục lặp lại quy trình này.

Khi huấn luyện viên Graham bắt đầu chú ý đến tôi, tôi là một đứa trẻ nhút nhát, không có kỹ năng gì, thể chất yếu đuối, và không cân bằng. Nhưng ông đã làm cho tôi nhận thức đuợc rằng, nếu tôi cố gắng rèn luyện, thì những điều tôi chưa làm được ngày hôm nay, tôi sẽ làm được vào ngày mai. Bây giờ, ngay cả khi vào tuổi bốn mươi bảy, tôi vẫn tự hào có thể làm được động tác đứng ba điểm không kém gì một cầu thủ tiền vệ bóng bầu dục hạng quốc gia.

Có thể bây giờ, một người như huấn luyện viên Graham sẽ bị gạt bỏ khỏi liên đoàn thể thao thanh thiếu niên, vì ông qúa nghiêm khắc và các bậc cha mẹ sẽ phản đối.

Tôi nhớ có một trận, đội chúng tôi chơi quá dở. Lúc nghỉ giữa giờ, vì vội vã để uống, chúng tôi đã cùng lao tới và gần như xô đổ thùng nước. Huấn luyện viên Graham tức giận: “Từ lúc trận đấu bắt đầu, sao bây giờ mới thấy mọi người chuyển động!” Chúng tôi đều mới mười một tuổi, chỉ biết đứng sững đó, sợ ông sẽ túm từng đứa, bẻ vụn bằng đôi bàn tay hộ pháp của ông. “Nước?” ông hét. “Mọi người muốn uống nước?” Ông nhấc bổng thùng và đổ tất cả nước xuống đất.

Chúng tôi đứng nhìn ông bỏ đi, rồi nghe ông thì thầm với một trợ lý: “Có thể đưa nước cho tuyến phòng ngự đầu. Mấy cậu đó chơi được.”

Cần phải nói rõ một điều ở đây là huấn luyện viên Graham không bao giờ gây nguy hiểm cho bất kỳ một ai. Một lý do khiến ông rất nghiêm khắc trong rèn luyện thể lực cho bọn trẻ chúng tôi, vì ông biết điều đó sẽ giúp giảm gây chấn thương. Hôm thi đấu đó là một ngày mát trời, chúng tôi lại đều đã được uống nước trong hiệp đầu. Việc tất cả cùng đổ xô tới thùng nước, chỉ chứng tỏ chúng tôi là một bầy nhóc hơn là do chúng tôi cần giải khát.

Kể cả là như vậy, nếu việc tương tự xảy ra vào thời buổi ngày nay, chắc các bậc phụ huynh đứng bên sân đã rút điện thoại di động để gọi ủy viên liên đoàn bóng, hoặc thậm chí gọi các luật sư của họ.

Thật đáng buồn là bây giờ nhiều đứa trẻ được quá nuông chiều. Nghĩ lại về sự kiện lúc nghỉ giữa giờ ngày hôm đó, tôi cảm thấy nhục nhã. Tất cả chúng tôi đã làm cho huấn luyện viên Graham thất vọng, và ông đã thể hiện cho chúng tôi biết điều đó theo một cách để chúng tôi không bao giờ quên được. Ông đã đúng. Chúng tôi đã tỏ ra dành nhiều năng lượng cho thùng nước giải khát hơn là cho trận đấu bóng. Và việc bị ông xỉ nhục đã có ý nghĩa đối với chúng tôi. Khi trở lại sân trong hiệp hai, chúng tôi đã thi đấu hết sức cố gắng.

Tuy không còn gặp huấn luyện viên Graham từ khi mười mấy tuổi, nhưng hình ảnh của ông luôn hiện lên trong trí nhớ của tôi, nhắc nhở tôi phải làm việc cố gắng hơn mỗi  khi tôi định đầu hàng, nhắc nhở tôi phải phấn đấu để hoàn thiện mình hơn. Ông đã cho tôi một bài học quý giá cho suốt cả cuộc đời.

* * *

Khi gửi con cái đi chơi thể thao – bóng bầu dục, bóng đá, bơi, v.v. – phần đông chúng ta không chỉ vì muốn chúng học được những thứ phức tạp của môn thể thao đó.

Cái chúng ta thực sự muốn chúng học được còn quan trọng hơn nhiều: đó là tinh thần đồng đội, tính kiên trì, tinh thần thể thao, giá trị của sự nỗ lực, và khả năng ứng xử đối với các nghịch cảnh. Cái gián tiếp học được như vậy, chúng ta gọi là “giả đầu (head fake).”

Có hai loại giả đầu. Loại thứ nhất là đơn giản dễ thấy. Trên sân bóng, một cầu thủ nghiêng đầu về một hướng, làm cho bạn tưởng anh ta sẽ chạy về hướng ấy, nhưng sau đó lại chạy về hướng ngược lại. Điều đó giống như một nhà ảo thuật dùng kỹ thuật đánh lạc hướng. Huấn luyện viên Graham thường nhắc chúng tôi phải quan sát thắt lưng của đối phương. “Bụng anh ta chuyển tới hướng nào, thì anh ta cũng sẽ chuyển tới hướng đó,” ông nói.

Loại giả đầu thứ hai quan trọng hơn nhiều – đó là dạy bạn điều mà bạn không hình dung là mình đang học, cho tới khi bạn dần học được điều đó. Nếu bạn là một chuyên gia về giả đầu, mục tiêu dấu kín của bạn sẽ là để cho mọi người học điều bạn muốn họ học.

Loại học giả đầu như vậy là vô cùng thiết yếu, và huấn luyện viên Graham là một bậc thầy trong lĩnh vực này.

8

Bạn sẽ tìm thấy tôi ở vần “V”

Tôi sống trong thời đại máy tính và rất yêu thích nó. Được tiếp xúc và gần gũi với đồ họa, với màn hình máy tính và với siêu xa lộ thông tin, tôi hoàn toàn có thể hình dung một thế giới không cần giấy.

Nhưng tôi đã lớn lên trong một khung cảnh rất khác.

Năm 1960, khi tôi sinh ra, giấy là nơi để lưu trữ kiến thức. Suốt những năm 1960 và 1970, cả gia đình tôi luôn hâm mộ tâp Bách khoa Toàn thư Thế giới (World Book Encyclopedia[9]) – các bức ảnh, bản đồ, cờ của các nước khác nhau, cùng các thông tin vô cùng bổ ích về dân số, diện tích và những nét chính về từng quốc gia đã hấp dẫn tôi.

Tôi không đọc từng chữ trong từng tập của Bách khoa Toàn thư, nhưng cũng đã thử việc đó. Tôi khâm phục cách thức các đề mục được thu thập lại cùng nhau. Ai là người viết đề mục về lợn đất? Làm thế nào để các biên tập viên của World Book gọi điện tới và nói, “Ông biết về lợn đất nhiều hơn tất cả mọi người khác. Ông có thể viết một đề mục cho chúng tôi được không?” Rồi trong vần “Z”, ai đã cho rằng mình đủ là một chuyên gia về tộc Zulu[10] để viết đề mục đó? Ông hoặc bà ta có phải là một người Zulu?

Cha mẹ tôi sống thanh đạm. Không như nhiều người Mỹ khác, ông bà không bao giờ mua bất cứ một thứ gì chỉ để gây ấn tượng với người khác. Nhưng ông bà đã rất hài lòng khi mua tập Bách khoa Toàn thư Thế giới, và đã chi một khỏan tiền khá lớn, tính vào thời điểm đó. Bằng việc làm như vậy, ông bà đã cho tôi và chị tôi món quà tri thức vô giá. Ông bà cũng đặt mua các tập phát hành bổ xung. Mỗi năm, một tập về các phát minh mới và các sự kiện thời sự lại đến – đánh số 1970, 1971, 1972, 1973 – và tôi nôn nóng đợi đọc chúng. Những tập mới bao giờ cũng có các nhãn ghi bổ xung cho các đề mục trong các tâp gốc theo vần alphabet. Nhiệm vụ của tôi là gắn các nhãn này vào các trang thích hợp, và tôi luôn làm công việc này một cách rất nghiêm túc. Tôi đã giúp sắp xếp mọi thứ theo trình tự lịch sử và khoa học, làm thuận tiện cho bất cứ ai sẽ mở những cuốn sách này trong tương lai.

Do quá hâm mộ Bách khoa Toàn thư Thế giới, một ước mơ tuổi thơ của tôi là sẽ trở thành người viết bài cho nó. Nhưng đâu phải bạn có thể gọi điện tới trụ sở của World Book ở Chicago và tự đề nghị. Ngược lại World Book phải biết và tìm tới bạn mới được.

Vài năm trước đây, tin hay không tin, cú điện thoại mà tôi mong đợi cuối cùng cũng đã đến.

Theo một cách nào đó, sự nghiệp của tôi tới lúc ấy đã biến tôi đúng thành loại chuyên gia mà World Book thấy thích hợp để đề nghị viết bài. Họ không nghĩ rằng tôi là chuyên gia số một trên thế giới về hiện thực ảo. Nhân vật này sẽ rất bận rộn để họ có thể tiếp cận. Còn tôi, tôi ở mức giữa – có uy tín đủ mức … nhưng không quá nổi tiếng để có thể từ chối họ.

“Ông có muốn viết đề mục mới của chúng tôi về hiện thực ảo?” họ hỏi.

Tôi không thể nói với họ là tôi đã đợi cú điện thoại này cả cuộc đời tôi. Tất cả những gì tôi có thể nói là: “Vâng, tất nhiên!” Và tôi đã viết đề mục đó. Tôi có kèm theo một bức ảnh chụp sinh viên Caitlin Kelleher của tôi đang đội một thiết bị mũ hiện thực ảo.

Không có biên tập viên nào hỏi xem tôi đã viết những gì. Tôi giả thiết đó là cách làm việc của World Book. Họ chọn một chuyên gia, và tin tưởng vị chuyên gia sẽ không lạm dụng đặc quyền được trao.

Tôi không mua ấn bản mới nhất của Bách khoa Toàn thư Thế giới. Thực ra, sau khi đã được chọn để trở thành tác giả trong World Book, bây giờ tôi tin rằng Wikipedia[11] là nguồn hoàn toàn đủ để bạn tra cứu thông tin, bởi tôi đã biết thế nào là kiểm tra chất lượng của bách khoa toàn thư thật. Vậy mà thỉnh thoảng khi ở trong thư viện cùng các con, tôi vẫn không tránh khỏi việc tìm vần “V” (“Virtual Reality”) trong World Book để chỉ cho chúng xem đề mục mà cha của chúng đã viết.

9

Những kỹ năng để lãnh đạo

Như bao đứa trẻ Mỹ sinh năm 1960, mọt sách và sớm tinh khôn, tôi đã dành một phần tuổi thơ để mơ ước được trở thành Thuyền trưởng James T. Kirk[12], người chỉ huy của Starship Enterprise[13]. Tôi không xem tôi là Thuyền trưởng Pausch, nhưng tưởng tượng ra một thế giới mà trong đó tôi dần sẽ trở thành Thuyền trưởng Kirk.

Với những đứa trẻ giàu tham vọng và có chút ít thích thú khoa học, không có thần tượng nào lại lớn hơn James T. Kirk của Star Trek[14]. Thật ra, tôi tin một cách nghiêm túc rằng, tôi đã trở thành một người thầy, một đồng nghiệp – có thể cả một người chồng – tốt hơn, bởi đã xem cách Kirk chỉ huy Enterprise.

Hãy nghĩ xem. Nếu bạn đã coi loạt phim truyền hình này, bạn sẽ thấy Kirk không phải là người thông minh nhất trên tầu. Ông Spock, sĩ quan, là người có trí tuệ và luôn logic. Tiến sĩ McCoy có tất cả các kiến thức y học của nhân loại của những năm 2260. Scotty là kỹ sư trưởng, người có hiểu biết kỹ thuật để điều khiển con tầu, ngay cả khi bị người ngoài hành tin tấn công.

Vậy những kỹ năng của Kirk là gì? Tại sao ông lại lên tầu và được chỉ huy nó?

Câu trả lời: Đó là những kỹ năng được gọi là “sự lãnh đạo.”

Tôi đã học được rất nhiều thứ qua việc nhìn cách thức Kirk làm việc. Ông là đặc trưng của một nhà quản lý năng động,  biết cách đại diện và phân quyền, có niềm say mê sáng tạo, và trông rất đẹp trong những bộ đồ ông mặc. Ông không bao giờ tự nhận là mình có nhiều khả năng hơn các thuộc cấp. Ông luôn thừa nhận họ là những người thông thạo những gì họ đang làm trong lĩnh vực của họ. Nhưng ông là người xác lập tầm nhìn, quyết định tiếng nói, và là người chịu trách nhiệm về tinh thần. Thêm nữa, Kirk có duyên tán tỉnh phụ nữ trên mọi hành tinh ông tới. Bạn cứ tưởng tượng tôi, một cậu bé mười tuổi, mang kính cận, say mê ngồi xem truyền hình ở nhà. Mỗi khi Kirk xuất hiện trên màn hình, tôi thấy ông như một vị thần Hy Lạp.

Và ông có những đồ chơi thật kỳ diệu! Khi còn là một đứa trẻ, tôi vô cùng thú vị thấy ông ở  trên một hành tinh nào đó và có một chiếc máy – thiết bị liên lạc Star Trek – để nói chuyện với những người đang ở trên tầu. Bây giờ tôi cũng có một thiết bị như vậy ở trong túi. Ai biết được, chính Kirk là người đã cho chúng ta làm quen với điện thoại di động.

Vài năm trước đây, tôi nhận được một cú điện thoại (trên thiết bị liên lạc của tôi) của một tác giả từ Pittsburgh tên là Chip Walter. Ông cùng với William Shatner (diễn viên đóng vai Kirk) viết một cuốn sách về việc những thành tựu khoa học, ban đầu được tưởng tượng trong Star Trek, đã báo trước cho những tiến bộ công nghệ ngày nay như thế nào. Thuyền trưởng Kirk có mong muốn được tới thăm phòng thí nghiệm về hiện thực ảo của tôi ở Carnegie Mellon.

Ước mơ tuổi thơ của tôi là trở thành Kirk. Nhưng tôi vẫn coi ước mơ này đã trở thành hiện thực khi Shatner xuất hiện. Thật kỳ diệu được gặp thần tượng thời niên thiếu của bạn, nhưng còn kỳ diệu hơn, khi thần tượng đến với bạn để xem những công việc kỳ diệu mà bạn đang thực hiện trong phòng thí nghiệm của mình.

Các sinh viên cùng tôi làm việc ngày đêm để xây dựng một thế giới hiện thực ảo giống như chiếc cầu của Enterprise. Khi Shatner tới, chúng tôi đặt chiếc “mũ – màn hình” to tướng lên đầu ông. Chiếc mũ có một màn hình ở bên trong, và khi quay đầu, ông có thể tự chứng kiến, quanh 360 độ, những hình ảnh về con tầu cũ của ông. “Trời ơi, lại còn có cả  những cánh cửa thang máy,” ông nói. Và chúng tôi còn có một bất ngờ nữa cho ông: còi báo động phát tín hiệu đèn đỏ. Ngay lập tức, ông hét, “Chúng ta đang bị tấn công!”

Shatner lưu lại ba tiếng, và đặt vô số câu hỏi. Một đồng nghiệp sau này có nói với tôi: “Ông ta hỏi liên tục và hình như vẫn chưa thật thỏa mãn.”

Còn tôi thì vô cùng có ấn tượng. Kirk, ý tôi nói là Shatner, là một thí dụ điển hình về một người biết rất rõ cái gì mình không biết, sẵn sàng thú nhận điều đó, và không muốn đi,  cho tới khi hiểu ra vấn đề. Với tôi, đó là một cách hành xử thật anh hùng. Tôi mong, mọi sinh viên cao học đều có thái độ như vậy.

Trong quá trình chữa trị ung thư, khi được thông báo là chỉ có 4 phần trăm bệnh nhân ung thư tụy có thể sống được năm năm, một dòng từ bộ phim Star Trek Sự Giận dữ của Khan    đã ngay lập tức xuất hiện trong đầu tôi. Trong phim, các học viên của đội tầu gặp một kịch bản được mô phỏng để tập, theo đó, bất kể các học viên làm gì, toàn đội tầu sẽ bị giết. Trong phim có giải thích, khi Kirk còn là học viên, ông đã lập trình lại sự mô phỏng, bởi “ông không tin vào kịch bản không-ai-thắng.”

Tới nay, vài đồng nghiệp có đôi coi thường sự cuồng nhiệt của tôi về Star Trek. Nhưng phải nói, ngay từ lúc đầu, nó đã rất hữu ích đối với tôi.

Sau khi Shatner biết tin về bệnh tình của tôi, ông đã gửi cho tôi một tấm ảnh chụp ông trong vai Kirk. Trên tấm ảnh ông ghi: “Tôi không tin vào kịch bản không-ai-thắng.”

10

Thắng lớn

Một trong những ước mơ tuổi thơ của tôi là trở thành chàng trai bắt mắt và ngông nhất trong công viên giải trí hay trong lễ hội carnival[15].

Thật dễ phát hiện ra chàng trai ngông nhất: anh ta là người dạo chơi với con thú nhồi to lớn nhất. Khi còn là một cậu bé, tôi đã thấy từ xa, những chàng trai mà đầu và người bị che khuất bởi những con thú nhồi cực lớn.  Chẳng kể anh ta là một Adonis[16] hay một con mọt sách, nếu anh ta có con thú nhồi to nhất, thì anh ta là chàng trai ngông nhất tại lễ hội.

Cha tôi cũng cùng chung niềm tin như vậy. Khi đi chơi trong công viên giải trí, ông sẽ cảm thấy hơi trơ trẽn khi thiếu một chú gấu hoặc một chú khỉ, mà ông vừa trúng thưởng, ngồi cùng, lúc ông leo lên đu bánh xe quay. Sẵn tinh thần thi đua trong gia đình, trò chơi Midway[17] thường trở thành một cuộc đấu xem ai trong chúng tôi sẽ lấy được con thú lớn nhất trong Vương quốc Thú Nhồi?

Đã bao giờ bạn đi dạo quanh một lễ hội carnival với một con thú nhồi to tướng chưa? Bạn có quan sát xem mọi người chiêm ngưỡng bạn và ghen tị với bạn như thế nào không? Đã bao giờ bạn dùng một con thú nhồi để tán tỉnh một người đàn bà chưa? Tôi đã làm như vậy … và tôi đã cưới người đàn bà ấy!

Những con thú nhồi vĩ đại đã rất sớm có ý nghĩa với tôi. Có lần, khi tôi ba tuổi còn chị tôi năm tuổi. Chúng tôi ở trong một cửa hàng đồ chơi, và cha tôi nói ông sẽ mua bất kể một thứ đồ chơi nào cho chúng tôi, nếu chúng tôi thích nó và đồng ý sẽ chơi chung. Chúng tôi nhìn quanh, rồi cuối cùng nhìn lên và thấy trên giá rất cao, một con thỏ nhồi bông rất lớn.

“Chúng con lấy con thỏ!” chị tôi nói.

Có lẽ đó là thứ đồ chơi đắt tiền nhất trong cửa hàng. Nhưng cha tôi là người giữ lời. Do vậy ông đã mua nó cho chúng tôi. Ông thấy đó là một đầu tư xứng đáng, bởi trong nhà, ai cũng vui khi có thêm một con thú nhồi lớn.

Khi tôi trưởng thành và ngày càng có nhiều thêm những con thú nhồi lớn, cha tôi nghĩ có lẽ tôi đã trả tiền mọi người để mua lại những con thú đó. Ông giả thiết rằng tôi đã chờ những người thắng giải, rồi dúi tờ năm mươi đồng cho anh chàng nào đó không đánh giá nổi việc một con thú nhồi vĩ đại có thể làm thay đổi nhận thức về thế giới của anh ta ra sao. Nhưng, tôi chưa bao giờ trả tiền cho những con thú nhồi.

Và tôi chưa bao giờ lừa đảo.

OK. Tôi thú nhận là tôi có dướn người khi chơi. Đó là cách duy nhất để thắng lúc ném vòng lấy giải. Tôi có dướn người để ném vòng, nhưng tôi không lừa đảo.

Tôi đã thắng giải nhiều lần với sự chứng kiến của những người trong gia đình. Và tôi biết điều đó càng làm tăng thêm sự hoài nghi. Với tôi, cách tốt nhất để thắng những con thú nhồi là không bị áp lực của khán giả gia đình. Tôi cũng không muốn bất cứ ai biết tôi phải cần bao nhiếu thời gian để đoạt giải. Tính ngoan cường thì rất trong sạch, nhưng không hẳn là lúc nào cũng nên để mọi người mục kích bạn đã phải vất vả như thế nào cho một công việc.


Đã bao giờ bạn đi dạo quanh một lễ hội carnival
với một con thú nhồi to tướng chưa?

Tôi xin tiết lộ là có hai bí mật để thắng những con thú nhồi vĩ đại: những cánh tay dài và một khỏan tiền nhỏ để dành. Tôi đã may mắn để có cả hai thứ đó.

Tôi đã nói về những con thú nhồi của tôi tại bài giảng cuối cùng, và chiếu các hình của chúng. Tôi có thể đoán, cử tọa rất sành công nghệ và hoài nghi đang nghĩ: Trong thời đại ảnh kỹ thuật số này, có thể những con gấu nhồi chẳng hề có thật trong những bức hình với tôi. Hoặc có thể tôi đã gạ gẫm những người thắng cuộc cho phép tôi được chụp ảnh cùng các giải thưởng của họ.

Làm sao có thể thuyết phục được cử tọa rằng tôi đã thật sự thắng giải những thứ này. Đúng, tôi sẽ phải cho họ xem những con thú nhồi thật. Và tôi đã để mấy sinh viên từ sau cánh gà bước ra, mỗi người mang theo một con thú nhồi lớn mà tôi đã thắng trong những năm qua.

Tôi không còn cần những giải thưởng này nữa. Mặc dù biết vợ tôi yêu thích con gấu nhồi tôi đặt ở phòng làm việc của cô khi chúng tôi mới quen nhau, nhưng bây giờ, với ba con, vợ tôi không còn muốn có cả một đội quân thú nhồi làm bừa bãi ngôi nhà mới. (Chúng đã bắt đầu xổ những sợi bọt lông, rồi Chloe sẽ nuốt phải.)

Tôi biết, nếu tôi giữ những con thú nhồi lại, một ngày nào đó, Jai sẽ phải gọi Goodwill[18] và nói, “Hãy tới để lấy chúng đi!” … hoặc tệ hơn, cảm thấy không nên làm điều đó! Bởi vậy tôi đã quyết định tặng chúng cho bạn bè.

Khi những con thú nhồi đã được xếp hàng trên bục, tôi tuyên bố: “Bất kỳ ai muốn nhận một món đồ của tôi, thì khi kết thúc bài giảng, xin mời lên nhận một con thú nhồi; ai đến trước, nhận trước.”

Những con thú nhồi vĩ đại đã nhanh chóng tìm được nơi ở mới. Vài ngày sau, tôi được biết, một trong những con thú nhồi đã được một sinh viên trường Carnegie Mellon nhận về. Cô sinh viên đó, giống tôi, cũng mắc bệnh ung thư. Sau bài giảng, cô bước lên bục và chọn một con voi lớn. Cô đã lấy con voi ở trong phòng.

11

Nơi hạnh phúc nhất trên trái đất

Năm 1969, khi tôi lên tám, gia đình tôi làm một chuyến du lịch xuyên quốc gia để thăm Disneyland. Đó là một chuyến đi rất dài. Khi tới nơi, tôi đã vô cùng kinh ngạc. Đây là khung cảnh kỳ diệu nhất, thích thú nhất mà tôi từng gặp.

Lúc đứng xếp hàng cùng những đứa trẻ khác để đợi đến lượt chơi, tất cả những gì tôi nghĩ là “Tôi mong chờ tới lúc chính mình có thể làm được những thứ thú vị như thế này!”

Hai mươi năm sau, khi nhận bằng Tiến sĩ về Khoa học Máy tính của Carnegie Mellon, tôi nghĩ mình đủ khả năng để làm bất cứ việc gì, nên đã gửi đơn xin việc tới Walt Disney Imagineering. Và họ gửi tôi mấy lá thư vào loại tồi tệ nhất mà tôi đã từng nhận. Họ bảo đã nhận được đơn xin việc của tôi, nhưng không có “bất cứ một vị trí nào phù hợp với khả năng của anh.”

Không có gì cả? Đó là một công ty nổi tiếng về việc thuê hàng đội quân để quét đường. Disney không có gì cho tôi? Không có cả một cái chổi?

Rõ ràng đó là một thất bại. Nhưng tôi đã luôn giữ câu thần chú của tôi trong tâm trí. Các bức tường gạch được dựng lên với một lý do. Chúng không ở đó để loại bỏ ta mà là để cho ta một cơ hội chứng tỏ ta muốn một điều gì đó ghê gớm tới mức độ nào.

Quay lại năm 1995, khi trở thành giáo sư tại Đại học Virginia, tôi đã tham gia phát triển một hệ thống có tên “Hiện Thực Ảo Năm Đô La Một Ngày.” Đó là thời gian mà các chuyên gia hiện thực ảo nói họ phải cần nửa triệu đô la để có thể làm bất cứ thứ gì. Các đồng nghiệp và tôi đã phát triển một phiên bản nhỏ của ga ra Hewlett-Packard, chung sức xây dựng một hệ thống hiện thực ảo giá rẻ. Đồng nghiệp trong giới tin học đều cho rằng đó là một hệ thống khá lý thú.

Không lâu sau, tôi biết tin Disney Imagineering đang làm một đề án hiện thực ảo. Một đề án tối mật, đó là trò chơi Aladdin cho phép nguời chơi cưỡi một tấm thảm thần. Tôi gọi điện tới Disney và giải thích rằng tôi là một chuyên gia nghiên cứu về hiện thực ảo, muốn tìm hiểu thông tin về đề án. Tôi rất kiên trì, và được chuyển hết người này sang người khác, cho tới khi được nối với một người mang tên Jon Snoddy. Ông là một Imagineer tuyệt vời, người điều hành nhóm đề tài. Tôi cảm thấy như đã gọi tới Nhà Trắng và được nối với Tổng Thống.

Sau khi chuyện trò một lúc, tôi nói với Jon là tôi có việc tới California. “Chúng ta có thể gặp nhau được không?” (Sự thực là, nếu ông nói được, thì lý do duy nhất đưa tôi đến Calìfornia là để gặp ông. Tôi sẽ có thể tới tận sao Hải Vương để gặp ông!) Ông ấy bảo OK. Nếu đằng nào tôi cũng đến, thì chúng tôi có thể cùng ăn trưa.

Trước khi tới gặp ông, tôi đã dành tới tám mươi giờ để chuẩn bị. Tôi đã nói chuyện với  tất cả các chuyên gia về hiện thực ảo mà tôi quen biết để trao đổi các suy nghĩ và câu hỏi về đề án Disney. Kết quả là, khi cuối cùng gặp Jon, ông đã rất thán phục sự hiểu biết của tôi. (Thật dễ tỏ ra là thông minh khi bạn thán phục người thông minh.)  Kết thúc bữa ăn trưa, tôi hỏi thăm dò.

“Sắp tới, tôi có một sabbatical,” tôi nói.

“Đó là cái gì?” ông hỏi. Tôi thấy ngay tín hiệu đầu tiên của sự khác biệt văn hóa giữa hai khối hàn lâm và giải trí mà tôi sẽ phải đối đầu.

Sau khi nghe tôi giải thích về ý nghĩa sabbatical, ông nghĩ đấy là một ý đồ hay nếu tôi dành thời gian nghỉ này để làm việc với nhóm của ông. Chúng tôi thỏa thuận: tôi sẽ tới sáu tháng, làm việc với đề án, và viết đăng một công trình về nó. Cũng khá mạo hiểm, vì chưa hề có tiền lệ là Imagineering mời một người trong giới hàn lâm như tôi tới làm việc bên trong một đề án mật.

Vấn đề còn lại là tôi cần được mấy xếp của tôi cho phép làm sabbatical theo kiểu khá kỳ lạ như vậy.

Mỗi câu chuyện Disney đều cần một kẻ côn đồ, và với câu chuyện của tôi, kẻ đó là một Trưởng khoa ở Đại học Virginia. “Trưởng khoa Giun” (Jai đặt tên ông như vậy để tôn vinh phim Animal House) đã lo lắng rằng Disney sẽ vắt kiệt “trí tuệ” khỏi đầu tôi, thứ mà theo luật lại là sở hữu của trường. Ông ta phản đối việc tôi muốn làm. Tôi hỏi: “Ông có nghĩ đó là một việc tốt không?” Và ông nói: “Tôi không biết liệu đó có phải là một việc tốt hay không.” Ông đã chứng tỏ, đôi khi, những bức tường gạch khó vượt qua nhất lại là làm bằng thịt.

Bởi chẳng đi được tới đâu với ông, tôi đã mang trường hợp của tôi tới chủ nhiệm khoa phụ trách nghiên cứu. Tôi hỏi ông: “Ông có nghĩ đó là một điều tốt nếu tôi làm việc này?” Và ông trả lời: “Tôi chưa có đủ thông tin để phát biểu. Nhưng tôi biết rằng một trong những giáo viên giỏi nhất khoa đang ở văn phòng của tôi và anh ta thật sự phấn khích. Vậy hãy nói thêm cho tôi nghe.”

Đây là một bài học cho các nhà quản lý. Cả hai trưởng khoa đều nói cùng một điều: họ không biết liệu làm sabbatical như vậy có phải là một điều tốt hay không. Nhưng hãy nghĩ về sự khác biệt trong cách nói của họ!

Chị tôi và tôi trong khu vui chơi Alice, Disneyland.

Cuối cùng, tôi đã được phép thực hiện kỳ sabbatical đó. Một giấc mơ của tôi đã trở thành hiện thực. Và tôi phải thú nhận, tôi là người khùng ra sao: ngay khi đến California, tôi nhảy lên chiếc xe mui trần của tôi và lái thẳng tới trụ sở của Imagineering. Đó là một buổi tối mùa hè nóng nực, và tôi vặn máy stereo để nghe thật to bản nhạc The Lion King của Disney. Khi tôi lái xe qua dãy nhà, những giọt nước mắt đã bắt đầu chảy tràn xuống mặt. Tôi đây rồi – phiên bản trưởng thành của cậu bé tám tuổi tròn xoe mắt ở Disneyland! Cuối cùng tôi đã đến. Tôi đã là một Imagineer.


[1] Battle of the Bulge. Trận Ardennes (16/12/1944 – 25/01/1945) là cuộc phản công chính của Đức cuối Thế Chiến II qua vùng núi Ardennes thuộc Bỉ, Pháp và Luxembourg trên Mặt trận miền Tây. Cuộc phản công có tên Đức là Unternehmen Wacht am Rhein (Lá chắn sông Rhine). Quân đội Mỹ đặt tên cuộc phản công là Trận đánh Ardennes, nhưng được công chúng biết nhiều dưới tên Trận Bulge. “Bulge” là viết tắt tiếng Đức, chỉ đường tấn công của quân Đồng minh.

 

[2] Columbia. Một vùng ngoại ô của thành phố Baltimore và Thủ đô Washington, DC, hiện có hơn 97 ngàn dân.

[3] Theory Qualifier. Lý thuyết đầy đủ bao gồm ba lĩnh vực chính: 1) cấu trúc dữ liệu và thuật toán, 2) lý thuyết độ phức tạp, và 3) ô tô mát và ngôn ngữ hình thức.

[4] Presbyterian. Giáo hội Trưởng lão là giáo hội (đặc biệt là giáo hội quốc gia của Scotland) được cai quản bởi các trưởng lão, chủ trương bình đẳng về cấp bậc.

[5] The National Aeronautics and Space Administration (NASA) là cơ quan của Chính phủ Hoa Kỳ, chịu trách nhiệm về chương trình không gian quốc gia. NASA được thành lập ngày 29 tháng 7 năm 1958 theo điều luật Hàng không và Vũ trụ Quốc gia. Bên cạnh chương trình không gian, NASA cũng chịu trách nhiệm về nghiên cứu dài hạn trong lĩnh vực hàng không dân sự và quân sự.

[6] Virtual reality (VR) là công nghệ cho phép người sử dụng tương tác với một môi trường, – có thật hoặc giả tưởng – được mô phỏng bởi máy tính. Phần lớn các môi trường hiện thực ảo dựa chủ yếu vào các kinh nghiệm trực giác, được hiện trên màn hình máy tính hoặc trên các kính hiển thị đặc biệt, đôi khi bao gồm cả âm thanh. Một số hệ thống phát triển còn bao gồm thông tin xúc giác, thường được biết tới như  nhũng phản hồi trong các ứng dụng y tế hoặc các trò chơi. Người sử dụng có thể giao tiếp với môi trường ảo thông qua thiết bị đầu vào như bàn phím và chuột, hoặc thiết bị nhiều mốt như găng tay điện. Môi trường mô phỏng có thể giống môi trường thật, thí dụ, mô phỏng cho phi công hoặc cho huấn luyện chiến đấu, hoặc có thể rất xa thực tiễn như trong các trò chơi. Hiện còn rất khó để tạo những kinh nghiệm hiện thực ảo chất lượng cao, chủ yếu do các giới hạn kỹ thuật về tốc độ xử lý, độ phân giải ảnh và giải băng truyền. Trong tương lai, những giới hạn này sẽ được khắc phục khi có kỹ thuật xử lý, ảnh số, và truyền số liệu tốt hơn và rẻ hơn.

[7] Football là môn bóng bầu dục rất phổ biến ở Mỹ. Môn thể thao được chơi như sau:

  • Hai đội chơi, mỗi đội có 11 người;
  • Một sân chơi bóng;
  • Ghi bàn họăc điểm bằng cách chuyền bóng về cuối sân của đối phương, hoặc là vào gôn, hoặc xuống dưới một vạch định sẵn;
  • Gôn hoặc vạch được bảo vệ bởi đội của đối phương;
  • Các cầu thủ chuyển bóng bằng cách đá, mang hoặc chuyền tay; và
  • Bàn thắng hoặc điểm được ghi khi các cầu thủ đưa bóng vào giữa hai cột gôn của đói phương.

[8] The Pennsylvania State University (thường gọi là Penn State) là trường đại học công ở bang Pennsylvania. Trường có 24 cơ sở, bao gồm cả một khuôn viên thế giới ảo. Truờng có tổng cộng khỏang 84 ngàn sinh viên, lớn thứ mười trong các đại học công ở Hoa Kỳ. Penn State có chương trình đào tạo trên 160 chuyên ngành và quản lý khỏan kinh phí 1,6 tỷ Đô la Mỹ.

[9] The World Book Encyclopedia là bách khoa tòan thư bán chạy nhất thế giới. Tập sách chứa kiến thức về tất cả các lĩnh vực chính, đặc biệt tập trung vào các chủ đề khoa kọc, kỹ thuật và y học. The World Book Encyclopedia có trụ sở ở Chicago, bang Illinois. Ấn bản lần đầu (1917) gồm tám tập. Những ấn bản mới được phát hành hàng năm, trừ các năm 1920, 1924, và 1932, với các sửa đổi chính vào năm 1930 (13 tập), 1947 (18 ngàn minh họa), 1960 (20 tập), và 1988.

[10] The Zulu là sắc tộc lớn nhất của Nam Phi với khỏang 10-11 triệu người, sống chủ yếu ở tỉnh KwaZulu-Natal, Nam Phi. Một bộ phận nhỏ hơn sống ở Zimbabwe, Zambia, và Mozambique. Ngôn ngữ của họ, isiZulu, là dòng Bantu. Vương quốc Zulu đóng vai trò lớn trong lịch sử Nam Phi trong các thế kỷ 19 và 20. Dưới chế độ apartheid, người Zulu bị xếp là công dân loại ba và chịu sự đàn áp của tệ phân biệt chủng tộc. Ngày nay, họ được bình đẳng với mọi công dân khác.

[11] Wikipedia là một đề án bách khoa toàn thư đa ngữ trên mạng mà người dùng không mất phí. Tên Wikipedia là ghép của các từ wiki (một dạng trang Web hợp tác) và encyclopedia (bách khoa toàn thư). Các bài viết của Wikipedia cung cấp các liên kết (links) để dẫn người dùng tới các trang cần thiết với các kiến thức bổ xung. Wikipedia được viết một cách hợp tác bởi những người tình nguyện trên khắp thế giới. Từ lúc thiết lập năm 2001, Wikipedia đã phát triển rất nhanh thành một trong những trang Web tra cứu lớn nhất, thu hút hơn 684 triệu lượt người xem hàng năm (thời điểm 2008). Đã có hơn 75 ngàn người đóng góp cho hơn 10 triệu bài viết bằng hơn 250 thứ tiếng.

[12] James Tiberius Kirk là nhân vật giả tưởng và là nhân vật chính trong các phim tập Star Trek. Diễn viên William Shatner đóng vai này trong suốt bốn mươi năm.

[13] The Enterprise or USS Enterprise (còn thường được gọi là Enterprise) là tên của nhiều con tầu ngôi sao (starships) giả tưởng, trung tâm điểm của các phim truyền hình và phim truyện Star Trek.

[14] Star Trek là phim giải trí truyền hình khoa học viễn tưởng Mỹ rất nổi tiếng của tác giả Gene Roddenberry. Star Trek gồm sáu tập phim truyền hình khởi đầu từ 1966, cùng mười phim truyện, hàng chục trò chơi máy tính và video, hàng trăm cuốn truyện, cũng như một thềm công viên ở khu giải trí Las Vegas. Riêng loạt phim truyền hình đầu tiên cũng đã đủ tạo thành một hiện tượng độc đáo, là khởi nguồn cho nhiều trào lưu văn hóa quần chúng.

[15] Carnival là mùa hội tháng Hai và tháng Ba trước lễ Phục Sinh, thường gồm các lễ hội quần chúng hoặc diễu hành có kết hợp các thứ như diễn xiếc và các trò vui trên đường phố. Mọi người thường hóa trang hay đeo mặt nạ trong các lễ hội này.

[16] Adonis một vị thần trong thần thoại Hy Lạp, biểu tượng cho tuổi trẻ.

[17] Midway Games là những trò chơi của hãng sản xuất trò chơi video Mỹ mang tên Midway. Những trò chơi nổi tiếng nhất có Mortal Kombat, Ms. Pac-Man, Spy Hunter, Tron và NBA Jam.

[18] Goodwill Industries International là một trong những tổ chức phi vụ lợi lớn nhất thế giới, cung cấp các dịch vụ đào tạo, huấn luyện và dạy nghề cho những người có thiệt thòi như bị phụ thuộc vào an sinh xã hội, vô gia cư, không được đi học hoặc thiếu kinh nghiêm làm việc, cũng như những người tàn tật hoặc bị tâm thần. Goodwill có mạng lưới gồm 184 tổ chức độc lập ở Mỹ, Canada và 14 nước khác.

10/11/2008

3 thoughts on “II. Thật sự đạt được những ước mơ tuổi thơ – Bài giảng cuối cùng (phần 3)

  1. cảm ơn bác đã dịch những dòng này…cháu đọc xong cảm thấy giọng văn thật hài hước và gẫn gũi giống như trò chuyện cùng tác giả vậy…cảm ơn vì sự nỗ lực của bác mang đến cho cộng đồng…chúc bác và gia đình sức khỏe

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s