IV. Tạo điều kiện cho những ước mơ của người khác – Bài giảng cuối cùng (phần 5)

Tác giả: Randy Pausch
Người dịch: Vũ Duy Mẫn

23

Tôi đang đi tuần trăng mật, nhưng nếu bạn cần tôi …

Một hôm, Jai bảo tôi đi mua mấy thứ đồ tạp phẩm. Sau khi đã tìm được tất cả các thứ trong danh sách, tôi nghĩ sẽ ra khỏi cửa hàng được nhanh hơn nếu dùng cửa tự quét giá hàng. Tôi quẹt thẻ tín dụng vào máy, rồi theo chỉ dẫn, tự quét giá các đồ mua. Máy bíp bíp và nói tôi trả số tiền 16,55 đô la, nhưng lại không in ra hóa đơn. Vậy nên tôi quẹt lại thẻ tín dụng và quét lại giá các đồ mua.

Ngay sau đó, máy in ra hai hóa đơn. Máy đã tính tiền tôi hai lần.

Lúc đó, tôi phải làm một quyết định. Tôi có thể tìm gặp người quản lý, ông ta sẽ nghe lời giải thích của tôi, điền một tờ khai, rồi mang thẻ tín dụng của tôi tới máy của ông để bỏ đi một lần tính tiền 16,55 đô la. Tất cả những việc rắc rối đó sẽ kéo dài mười, thậm chí mười lăm phút. Và việc đó đối với tôi chẳng thú vị chút xíu nào.

Với quỹ thời gian ngắn ngủi của tôi, liệu tôi có nên dành những phút quý giá như vậy để lấy lại chút ít tiền? Rất không nên. Liệu tôi có khả năng để trả thừa 16,55 đô la? Tôi có thể. Vậy nên tôi ra khỏi cửa hàng, vui sướng hơn vì có mười lăm phút thay vì mười sáu đô la.

Suốt đời tôi, tôi luôn ý thức rằng thời gian là hữu hạn. Tôi thú nhận là tôi hơi quá lô gíc về một đống thứ, nhưng tôi tin chắc rằng một trong những việc làm hợp lý của tôi là tôi đã cố gắng quản lý quỹ thời gian sao cho thật tốt. Tôi đã nói về quản lý thời gian cho sinh viên của tôi. Tôi đã giảng những bài giảng về đề tài này. Và bởi tôi làm điều đó rất tốt, tôi thật sự cảm thấy tôi đã có thể thực hiện được khá nhiều việc trong cuộc đời tương đối ngắn ngủi của tôi.

Đây là những điều tôi biết:

Thời gian cần phải được quản lý một cách rõ ràng, giống như tiền bạc. Sinh viên của tôi thường ngạc nhiên về cái mà họ gọi là “chủ nghĩa Pausch.” Khi nhắc nhở sinh viên không nên dành thời gian cho những chi tiết không cần thiết, tôi nói với họ: “dù bạn có đánh bóng gầm lan can đến đâu đi nữa, thì cũng sẽ chẳng có thêm được ý nghĩa gì.”

Bạn luôn có thể thay đổi kế hoạch, nhưng chỉ khi bạn có một kế hoạch. Tôi là người rất ủng hộ cho danh sách việc-cần-làm. Nó giúp ta chia cuộc đời thành những bước nhỏ. Tôi đã từng ghi “lấy hợp đồng vĩnh viễn[1]” vào danh sách việc-cần-làm của tôi. Đó là điều ấu trĩ. Danh sách việc-cần-làm chỉ có ý nghĩa khi chia các nhiệm vụ thành các bước nhỏ. Giống như khi tôi cổ vũ Logan dọn dẹp phòng của nó bằng cách bảo nó nhặt xếp từng thứ một mỗi lần.

Hãy tự hỏi: Bạn có sử dụng thời gian của bạn vào những việc có ý nghĩa không? Bạn có thể có nhiều mục đích, mục tiêu và quan tâm. Chúng có đáng để bạn theo đuổi không? Tôi đã giữ từ khá lâu một bài cắt ra từ một tờ báo địa phương ở Roanoke, Virginia. Bài viết về một phụ nữ mang thai đã đệ đơn kiện một công ty xây dựng. Bà lo lắng là tiếng ồn của búa khoan sẽ làm tổn thương đứa trẻ chưa sinh của bà. Nhưng hãy xem: Trong bức ảnh, người phụ nữ này cầm một điếu thuốc lá. Nếu bà quan tâm tới đứa con chưa sinh của bà, thì tốt hơn là bà nên dành thời gian đi kiện chống những chiếc búa khoan, để cai hút thuốc lá.

Thiết lập một hệ thống lưu trữ tốt. Khi tôi nói với Jai là tôi muốn có một chỗ trong nhà để lưu trữ các thứ giấy tờ theo thứ tự vần chữ cái, cô bảo tôi quá rắc rối. Tôi nói với cô: “Sắp xếp mọi thứ một cách trật tự là tốt hơn nhiều so với việc chạy tìm khắp nhà rồi kêu, ‘em biết nó màu xanh và em biết là em cầm nó khi đang ăn cái gì đó.’”

Hãy nghĩ lại về điện thoại. Tôi sống trong nền văn hóa mà mình phải dành khá nhiều thời gian để đợi phôn và nghe câu “Cuộc gọi của bạn là rất quan trọng đối với chúng tôi.”  Điều này cũng giống như một chàng trai tát vào mặt một cô gái ngay cuộc hẹn hò đầu tiên và nói, “Anh thật sự yêu em.” Vâng, đó là cách dịch vụ khách hàng đương thời hoạt động. Và tôi không chấp nhận nó. Tôi luôn đảm bảo không bao giờ phải đợi với phôn áp bên tai. Tôi luôn dùng loa phôn, như vậy tay tôi vẫn hoàn toàn tự do để làm những việc khác.

Tôi cũng sưu tầm những kỹ thuật để cắt ngắn các cuộc gọi không cần thiết. Nếu tôi ngồi trong khi nói điện thoại, tôi không bao giờ gác chân lên. Thực ra, khi nói điện thoại, bạn đứng thì tốt hơn, bạn sẽ có xu hướng nói nhanh gọn hơn. Tôi cũng thích để trong tầm mắt trên bàn thứ gì đó mà tôi muốn làm, như vậy tôi sẽ bị thúc giục để kết thúc nhanh cuộc nói chuyện.

Sau nhiều năm, tôi thu lượm được một số mẹo khác về điện thoại. Bạn muốn dứt điểm nhanh gọn với những cú gọi quảng cáo?  Hãy cắt máy trong khi bạn đang nói và họ đang nghe. Họ sẽ nghĩ là đường dây nối của bạn bị trục trặc, và chuyển sang cú gọi cho người tiếp theo. Bạn muốn làm một cuộc gọi ngắn cho một người nào đó? Hãy gọi họ lúc 11 giờ 55 sáng, ngay trước giờ ăn trưa. Họ sẽ nói nhanh. Bạn có thể tưởng là bạn thú vị, nhưng thật ra bạn không thú vị hơn bữa ăn trưa của họ.

Ủy thác. Là một giáo sư, tôi sớm học được điều là tôi có thể tin tưởng vào những sinh viên mười chín tuổi, thông minh, với những chiếc chìa khóa để bước vào vương quốc của tôi, và trong hầu hết mọi trường hợp, họ rất có trách nhiệm và gây ấn tượng tốt. Không bao giờ là sớm khi ủy thác. Con gái tôi, Chloe, mới chỉ muời tám tháng tuổi, nhưng hai trong số những bức ảnh tôi thích nhất chụp nó ngồi trong tay tôi. Trong bức ảnh đầu, tôi cầm chai sữa cho nó bú. Trong bức thứ hai, tôi đã ủy thác công việc cho nó. Chloe trông rất thỏa mãn. Tôi cũng vậy.

Phải nghỉ ngơi. Không phải là nghỉ ngơi thật sự, nếu bạn vẫn tiếp tục đọc email họăc gọi điện thoại để nghe lời nhắn. Khi Jai và tôi đi nghỉ tuần trăng mật, chúng tôi muốn được yên tĩnh một mình. Nhưng sếp lại thấy tôi cần thông báo cách để mọi người có thể liên lạc được với tôi. Tôi để lại tin nhắn như sau:

“Xin chào, đây là Randy. Tôi đợi tới lúc ba mươi chín tuổi mới cưới vợ, vậy nên vợ tôi và tôi đi nghỉ một tháng. Tôi hy vọng bạn không có vấn đề gì với việc này. Nhưng sếp của tôi thì có. Do vậy tôi phải nhắn lại cách để bạn có thể liên lạc được với tôi.” Kế đó, tôi nói tên của bố mẹ Jai và thành phố nơi họ sống. “Nếu bạn gọi tổng đài, bạn sẽ có số điện thoại của họ. Và sau đó, nếu bạn có thể thuyết phục được bố mẹ vợ của tôi rằng sự khẩn cấp của bạn là xứng đáng để ngắt đoạn tuần trăng mật của cô con gái duy nhất của họ, thì bạn sẽ nhận được số điện thoại của tôi.”

Chúng tôi không nhận được cú phôn nào cả.

Một số thủ thuật quản lý thời gian của tôi là nghiêm túc một cách sống còn, vài thủ thuật khác thì khó đánh giá hơn. Nhưng tôi tin rằng tất cả chúng đều xứng đáng để được xem xét.

Thời gian là tất cả những gì bạn có. Và một ngày nào đó, bạn sẽ thấy, bạn có ít hơn là bạn nghĩ.

24

Một kẻ xuẩn ngốc thức tỉnh

Một câu nói dập khuôn được chấp nhận trong giáo dục là: mục tiêu số một của các giảng viên là giúp cho sinh viên học cách học như thế nào.

Tất nhiên, tôi luôn nhìn nhận giá trị của điều đó. Nhưng trong thâm tâm tôi, một mục tiêu số một tốt hơn là: giúp cho sinh viên học cách tự đánh giá họ như thế nào.

Họ có nhận biết được những năng lực thật của họ không? Họ có ý thức được về những khiếm khuyết của họ không? Họ có thực tế về cách những người khác nhìn nhận họ không?

Cuối cùng, các nhà giáo sẽ phục vụ sinh viên tốt nhất bằng cách giúp họ trở thành tự phản chiếu hơn. Cách duy nhất để mỗi người có thể tiến bộ – như Huấn luyện viên Graham đã dạy tôi – là phát triển được khả năng thật sự để tự đánh giá mình. Nếu không làm được xác đáng điều đó, làm sao có thể nói chúng ta đang tốt lên hay xấu đi?

Một số người theo trường phái cổ điển phàn nàn rằng họ cảm thấy tất cả những gì giáo dục đại học ngày nay quan tâm là: phục vụ khách hàng. Sinh viên và cha mẹ của họ nghĩ rằng họ trả nhiều tiền cho một sản phẩm, và do vậy họ muốn sản phẩm đó phải có giá trị theo cách đo đếm được. Điều đó giống như họ bước vào một cửa hàng bách hóa, và thay vì mua năm chiếc quần bò hiệu, họ mua một khóa học năm môn.

Tôi không hoàn toàn phủ định mô hình phục vụ khách hàng, nhưng nghĩ điều quan trọng là phải dùng ẩn dụ thương mại này một cách đúng đắn. Đây không phải là bán lẻ. Thay vào đó, tôi so sánh học phí đại học như tiền thù lao cho người hướng dẫn tập cá nhân ở một câu lạc bộ thể thao. Các giáo sư chúng tôi đóng vai trò người hướng dẫn, cho sinh viên tiếp cận tới các thiết bị (sách, phòng thí nghiệm, kinh nghiệm của chúng tôi) và sau đó, công việc của chúng tôi là đòi hỏi. Chúng tôi phải đảm bảo để sinh viên tự luyện tập. Chúng tôi cần khen ngợi họ khi họ xứng đáng và phải thẳng thắn nhắc họ khi họ cần làm việc cố gắng hơn.

Quan trọng nhất là chúng tôi phải cho họ biết cần tự đánh giá thế nào về tiến bộ của họ. Điều tuyệt vời về luyện tập trong phòng thể thao là nếu bạn cố gắng, bạn sẽ có kết quả rất rõ ràng. Điều này cũng đúng đối với giáo dục đại học. Công việc của một giáo sư là dạy cho sinh viên cách xem xét tâm thức họ phát triển như thế nào, giống như cách họ có thể thấy cơ bắp của họ phát triển ra sao bằng cách nhìn vào một tấm gương.

Nhằm đạt được điều đó, tôi đã cố gắng đưa ra cách thức để mọi người có thể lắng nghe phản hồi. Tôi đã liên tục giúp sinh viên phát triển vòng phản hồi của chính họ. Việc này không hẳn dễ dàng. Để mọi người vui vẻ đón nhận phản hồi là việc khó nhất mà tôi phải làm, với tư cách của một nhà giáo. (Nó cũng không dễ trong cuộc sống cá nhân của tôi.) Tôi rất buồn vì có quá nhiều cha mẹ và các nhà giáo đã đầu hàng việc này. Khi họ nói về xây dựng lòng tự trọng, họ thường dùng lời tâng bốc rỗng tuếch thay vì phát triển tính cách một cách trung thực. Tôi đã nghe rất nhiều người nói về vòng xoáy ốc tụt lùi trong hệ thống giáo dục của chúng ta, và tôi nghĩ một nguyên nhân mấu chốt là do có qúa nhiều sải bước và có quá ít phản hồi thực sự.

Khi tôi dạy lớp “Xây dựng các thế giới ảo” ở Carnegie Mellon, chúng tôi đã tiến hành làm phản hồi ngang, hai tuần một lần. Đó là một lớp học hoàn toàn hợp tác, sinh viên làm việc trong các nhóm bốn người, trên các đề án hiện thực ảo máy tính. Họ phụ thuộc lẫn nhau và điểm của họ phản ánh điều đó.

Chúng tôi lấy tất cả các phản hồi ngang và đưa vào một trang tính. Tới cuối học kỳ, sau khi mỗi sinh viên đã làm năm đề án, mỗi đề án được làm với ba thành viên khác, mỗi người có mười lăm số liệu. Đó là một cách thực dụng, có ý nghĩa thống kê để họ tự nhìn vào chính họ.

Tôi lập những biểu đồ cột nhiều màu, trong đó, mỗi sinh viên có thể thấy xếp hạng của mình về các chỉ số đo đơn gỉản như:

1)      Những người cùng nhóm có nghĩ là anh ta làm việc tích cực không? Chính xác thì những người cùng nhóm nghĩ anh ta đã dành bao nhiêu giờ để làm việc cho đề án?

2)      Đóng góp của anh ta có tính sáng tạo như thế nào?

3)      Những người cùng nhóm thấy dễ hay khó làm việc với anh ta? Anh ta có tinh thần đồng đội không?

Như tôi vẫn luôn chỉ rõ, đặc biệt là với điểm 3), những gì những người cùng nhóm nghĩ, thực chất là một đánh giá chính xác là làm việc với bạn dễ dàng như thế nào.

Những biểu đồ cột nhiều mầu rất đặc thù. Tất cả sinh viên đều biết họ đứng ở đâu trong tuơng quan với bốn mươi chín sinh viên khác.

Các biểu đồ cột cùng các mẫu phản hồi khác, đặc biệt có bao gồm các đề nghị giúp làm tiến bộ, như: “Hãy để mọi người kết thúc câu của họ, khi họ đang nói.”

Hy vọng của tôi là, sẽ có nhiều sinh viên nhìn những thông tin này và nói, “Ôi trời, mình phải ghi nhận điều này.”  Đó là những phản hồi khó có thể bỏ qua, nhưng một số ít người vẫn không hề quan tâm tới chúng.

Có một khóa giảng, tôi để sinh viên đánh giá từng người một theo cùng phương pháp, nhưng chỉ cho sinh viên biết họ thuộc nhóm một phần tư nào. Tôi nhớ cuộc nói chuyên với một sinh viên bị những người khác cho là đặc biệt khó chịu. Cậu ta thông minh, nhưng quá chủ quan ngộ nhận về mình, nên không mảy may biết cậu ta được nhìn nhận ra sao. Cậu ta xem số liệu, thấy mình bị xếp ở nhóm một phần tư thấp nhất và không hề băn khoăn.

Cậu ta hình dung, nếu bị xếp vào nhóm 25 phần trăm thấp nhất, thì cậu ta phải ở mức quãng 24 hay 25 phần trăm (chứ không phải thuộc 5 phần trăm đáy). Do đó trong ý nghĩ, cậu ta thấy mình gần thuộc nhóm 25 phần trăm cao hơn. Như vậy cậu ta xem mình “không xa mấy với nhóm 50 phần trăm,” có nghĩa là, bạn bè thấy cậu ta cũng không sao cả.

“Tôi rất mừng vì chúng ta có cuộc trao đổi này,” tôi nói với cậu ta, “bởi tôi nghĩ điều quan trọng là tôi cho anh biết một số thông tin cụ thể. Anh không những chỉ thuộc nhóm 25 phần trăm thấp nhất. Với năm mươi sinh viên trong lớp, bạn bè xếp anh hạng cuối cùng. Anh là người thứ năm mươi. Anh có vấn đề nghiêm trọng. Mọi người nói anh không hề biết lắng nghe và rất khó làm việc, trao đổi với anh. Điều đó không hề tốt.”

Cậu sinh viên bị sốc. Cậu ta có tất cả, mọi thứ đều tỏ ra rất hợp lý, và bây giờ thì tôi lại ngồi đây để đưa cho cậu ta những số liệu khá phũ phàng.

Và rồi tôi đã kể với cậu ta về chính tôi.

“Trước đây tôi cũng đã từng rất giống anh,” tôi nói. “Tôi đã từng bị phủ nhận. Nhưng tôi may mắn có một giáo sư, ông đã chứng tỏ sự quan tâm tới tôi bằng cách nói thẳng sự thật cho tôi biết. Và đây là điều đặc biệt của tôi: tôi đã lắng nghe.”

Cặp mắt của cậu sinh viên mở rộng. “Tôi thú nhận điều đó,” tôi nói. “Tôi là một kẻ xuẩn ngốc được thức tỉnh. Và việc đó đã cho tôi thẩm quyền đạo đức để nói với anh rằng, anh cũng có thể trở thành một kẻ xuẩn ngốc thức tỉnh.”

Trong thời gian còn lại của học kỳ, cậu sinh viên này đã luôn tự kiểm soát mình. Cậu ta đã tiến bộ. Tôi đã cho cậu ta một đặc ân, cũng giống như Andy van Dam đã cho tôi mấy năm trước đây.

25

Rèn luyện một Jedi[2]

Thật vui sướng khi bạn hoàn tất được những ước mơ tuổi thơ của mình, nhưng khi có tuổi hơn, bạn sẽ thấy việc tạo điều kiện cho những ước mơ của người khác còn làm mình vui sướng hơn.

Khi tôi dạy ở Đại học Virginia năm 1993, Tommy Burnett, một sinh viên hai mươi hai tuổi – người từ một nghệ sĩ đã trở thành một tài năng về đồ họa máy tính – muốn được làm việc trong nhóm nghiên cứu của tôi. Sau khi nói chuyện về cuộc sống và các mục tiêu, cậu ta bất ngờ nói: “Ôi, và tôi đã luôn có chính ước mơ tuổi thơ này.”

Bất kể ai dùng các từ “tuổi thơ” và “ước mơ” trong cùng một câu, đều gây cho tôi sự chú ý.

“Và ước mơ tuổi thơ của anh là gì, Tommy?” tôi hỏi.

“Tôi muốn làm việc cho bộ phim Star Wars kế tiếp,” cậu ta nói.

Xin nhớ, đó là năm 1993. Bộ phim Star Wars cuối cùng được làm năm 1983, và chưa hề có những kế hoạch cụ thể nào để làm thêm phim này. Tôi giải thích điều đó. “Đó là một ước mơ khá viển vông, và sẽ rất khó để đạt được,” tôi bảo với cậu ta. “Nói chính xác là, họ đã kết thúc việc làm các bộ phim Star Wars.”

“Không,” cậu ta nói, “họ sẽ làm thêm nữa, và khi họ thực hiện, tôi sẽ tham gia làm phim. Đó là kế hoạch của tôi.”

Tommy mới sáu tuổi khi bộ phim Star Wars đầu tiên ra đời vào năm 1977. “Những đứa trẻ khác muốn trở thành Han Solo[3],” cậu ta nói với tôi. “Nhưng tôi thì không. Tôi muốn trở thành người làm nên những hiệu ứng đặc biệt – những con tầu vũ trụ, những hành tinh, những người máy.”

Cậu ta nói với tôi, khi còn là một đứa trẻ, cậu ta đã đọc tất cả các bài viết về kỹ thuật Star Wars có thể kiếm được. Cậu ta có tất cả các cuốn sách giải thích các mô hình được xây dựng ra sao, và các hiệu ứng đặc biệt được tạo ra như thế nào.

Khi nghe Tommy nói, tôi đã hồi tưởng lại tuổi thơ của tôi khi tới thăm Disneyland, và tôi đã có thôi thúc ra sao để lớn lên và sáng tạo được những trò chơi kiểu như vậy. Tôi đã hình dung là ước mơ to lớn của Tommy sẽ không thể trở thành hiện thực được, nhưng nó lại giúp ích cho cậu ta theo một cách nào đó. Tôi có thể làm việc với một người có mơ ước như vậy. Tôi biết từ ham muốn vào đội bóng bầu dục hạng quốc gia của tôi, Tommy có những ham muốn mà kể cả khi không đạt được, chúng vẫn giúp cậu ta rất tốt, do vậy tôi để cậu ta tham gia vào nhóm nghiên cứu của tôi.

Tommy sẽ nói với bạn rằng tôi là loại sếp rất khó tính. Cậu ta nhớ, tôi yêu cầu ở cậu ta nhiều và có những đòi hỏi rất cao, nhưng cậu ta cũng biết là tôi rất quan tâm tới những mong muốn và sở thích của cậu ta. Cậu ta so sánh tôi với một huấn luyện viên bóng bầu dục. (Tôi nghĩ là tôi đã theo gương Huấn luyện viên Graham.)  Tommy cũng nói là cậu ta không những chỉ học được từ tôi về lập trình hiện thực ảo, mà còn về cách mà các đồng nghiệp cần phải làm việc gắn bó với nhau kiểu như trong một gia đình. Cậu ta nhớ tôi đã nói với cậu ta: “Tôi biết anh thông minh. Nhưng ai ở đây cũng thông minh. Thông minh là chưa đủ. Loại người tôi muốn có trong nhóm nghiên cứu của tôi là những người sẽ giúp được những người khác cảm thấy vui sướng và hạnh phúc khi cùng nhau làm việc ở đây.”

Tommy đã chứng tỏ là người có tinh thần đồng đội như vậy. Sau khi tôi có hợp đồng vĩnh viễn (tenue), tôi đã đưa Tommy và các thành viên khác trong nhóm nghiên cứu của tôi tới Disney World như một cách để nói lời cám ơn.

Khi tôi chuyển tới Carnegie Mellon, các thành viên trong nhóm nghiên cứu của tôi từ Đại học Virginia đã cùng theo tôi – tất cả, trừ Tommy.  Cậu ta không chuyển được cùng. Vì sao? Bởi cậu ta được tuyển vào làm ở công ty Industrial Light & Magic[4] của nhà sản xuất kiêm chủ nhiệm George Lucas[5]. Cũng cần nói thêm là họ đã tuyển Tommy, không phải vì ước mơ mà vì khả năng và trình độ của cậu ta. Trong thời gian làm việc với nhóm nghiên cứu của tôi, Tommy đã trở thành một người thảo chương xuất sắc trên ngôn ngữ Python[6], và thật may mắn, đó cũng là thứ ngôn ngữ được lựa chọn ở Industrial Light & Magic. May mắn rõ ràng là sự gặp gỡ của chuẩn bị và thời cơ.

Không khó để đoán biết kết cục câu chuyện sẽ đi về đâu. Ba bộ phim Star Wars mới đã ra đời – trong năm 1999, 2002, và 2005 – và Tommy đã làm việc cho cả ba bộ phim đó.

Với Star Wars Episode II: Attack of the Clones (Cuộc tấn công của những người vô tính), Tommy là giám đốc kỹ thuật chính. Trong phim có một đoạn tuyệt vời mười lăm phút đánh nhau trên hành tinh đá đỏ giữa những người nhân giống vô tính với những người máy, và Tommy là người xây dựng toàn bộ cảnh này. Cậu ta cùng cả nhóm đã dùng các ảnh của vùng sa mạc Utah[7] để tạo phong cảnh ảo cho trận đánh. Tommy đã làm những công việc kỳ diệu, cho phép cậu ta sống mỗi ngày trên một hành tinh.

Vài năm sau, Tommy đã rất tử tế, mời tôi cùng các sinh viên của tôi tới thăm Industrial Light & Magic. Người đồng nghiệp của tôi, Don Marinelli, đã khởi đầu một truyền thống khá ấn tượng, hàng năm tổ chức một chuyến đi đưa các sinh viên qua bờ tây, để họ tham quan vùng công nghiệp giải trí và các công ty công nghệ cao, nơi có thể thu hút họ vào làm việc trong thế giới đồ họa máy tính. Lúc đó, người như Tommy rõ ràng là một vị chúa đối với lớp sinh viên trẻ. Cậu ta đã làm sống động những ước mơ của họ.

Tommy ngồi cùng với ba cựu sinh viên khác của tôi, để trao đổi với các sinh viên. Nhóm sinh viên này chưa biết rõ sẽ theo học với tôi như thế nào. Tôi vẫn vậy, theo kiểu của riêng tôi – một ông thầy với những yêu cầu, đòi hỏi cao và theo những cách hơi khác lạ – và sinh viên thì chưa đến độ đánh giá đúng những giá trị đó. Sau một học kỳ, một vài sinh viên rõ ràng vẫn còn coi chừng và đề phòng nếp làm việc do thói quen mà có của tôi.

Cuối cùng, cuộc trao đổi chuyển sang đề tài làm thế nào để bắt đầu thâm nhập vào doanh nghiệp điện ảnh, và một sinh viên muốn biết về vai trò của may mắn. Tommy tình nguyện trả lời câu hỏi này. “Cần rất nhiều may mắn,” anh nói. “Nhưng tất cả các bạn đã đều may mắn. Được làm việc với Randy và học ông, đó chính là một loại may mắn. Tôi đã không ở đây, nếu không có Randy.”

Tôi đã từng trôi bồng bềnh trong trạng thái không trọng lượng. Nhưng, ngày hôm đó, tôi còn trôi bồng bềnh cao hơn thế. Tôi rất trân trọng việc Tommy bày tỏ tôi là người đã giúp tạo điều kiện cho những ước mơ của anh trở thành hiện thực. Điều thật sự đặc biệt là anh đền đáp đặc ân đó bằng cách tạo điều kiện cho những ước mơ của các sinh viên của tôi (và như vậy cũng chính là giúp tôi trong tiến trình này). Đấy là thời khắc đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ của tôi với lớp học. Tommy đã chuyển giao bước ngoặt này.

26

Họ đã làm tôi bàng hoàng

Những người quen biết thường nói tôi là một quái vật rất hiệu quả. Hiển nhiên, họ đã làm tôi tự hào. Tôi thường làm hai, hay ba việc có ích một lúc. Do vậy, khi thâm niên dạy học tăng lên, tôi bắt đầu suy nghĩ về câu hỏi: Nếu tôi có thể giúp sinh viên, từng người một, để họ vươn tới đạt được những ước mơ tuổi thơ của họ, thì liệu có cách nào để giúp nhiều sinh viên theo một quy mô lớn hơn không?

Tôi đã tìm thấy cái quy mô lớn hơn đó khi đến Carnegie Mellon vào năm 1997 trong tư cách Phó Giáo sư tin học. Chuyên ngành của tôi là “tương tác người – máy tính,” và tôi đã lập môn giảng có tên “Xây dựng các Thế giới Ảo,” gọi tắt là BVW (Building Virtual Worlds).

Ý tưởng nền tảng thực ra không xa mấy so với ý tưởng của Mickey Rooner[8]/Judy Garland[9] “Hãy dựng lên một vở diễn,” chỉ có điều nó được cập nhật cho thời đại có đồ họa máy tính, hoạt hình ba chiều và cái ta gọi là “các thế giới hiện thực ảo tương tác.”

Tôi mở lớp cho năm mươi sinh viên từ tất cả các khoa khác nhau trong trường. Chúng tôi có sinh viên các ngành biểu diễn, văn học và điêu khắc lẫn với sinh viên các ngành kỹ thuật, toán, và tin học. Đó là những sinh viên mà bình thường ra thì chẳng có nguyên cớ gì để gặp nhau, bởi các chuyên ngành ở Carnegie Mellon là rất độc lập. Nhưng chúng tôi đã làm cho những thanh niên này trở thành cộng tác viên của nhau, bắt buộc họ phải cùng nhau thực hiện những việc mà họ không thể làm một mình được.

Mỗi nhóm có bốn người được chọn một cách ngẫu nhiên, và họ làm việc cùng nhau cho các đề án kéo dài hai tuần. Tôi chỉ nói với họ: “Hãy xây dựng một thế giới ảo.” Và họ sẽ lập trình một cái gì đó, sáng tác ra một cái gì đó, trình bày cho những người khác xem, và sau đó tôi tráo các nhóm, họ nhận ba cộng tác viên mới và lại bắt đầu từ đầu.

Tôi chỉ có hai nguyên tắc cho các thế giới hiện thực ảo của họ: Không có bắn giết bạo lực và không có khiêu dâm. Tôi đưa ra quy định như vậy chủ yếu vì những thứ này đã được thực hiện trong các trò chơi máy tính tới cả tỷ lần, và tôi muốn trông đợi những ý tưởng nguyên tác hơn.

Bạn phải hết sức ngạc nhiên khi thấy các cậu bé mười chín tuổi hoàn toàn cạn kiệt ý tưởng, khi lấy tình dục và bạo lực ra khỏi danh sách các chủ đề. Và rồi, khi tôi yêu cầu họ hãy suy nghĩ vượt ra khỏi những thứ thông thường, hầu hết họ đã đáp ứng được với đòi hỏi. Thực tế, năm đầu tổ chức lớp học, khi các sinh viên trình diễn những đề án đầu tiên, họ đã làm tôi bàng hoàng. Những kết quả của họ đúng là đã vượt khỏi sức tưởng tượng của tôi. Tôi đặc biệt bị ấn tượng bởi họ phải lập trình trên những chiếc máy tính rất yếu theo các chuẩn mực về hiện thực ảo của Hollywood, và họ đã cho ra những hạt ngọc lạ thường.

Lúc đó, tôi đã là giáo sư tới cả chục năm, và khi bắt đầu chương trình BVW, tôi chưa biết chính xác có thể trông đợi được những gì. Tôi giao đề án cho hai tuần đầu tiên, và những kết quả đã làm tôi chóang ngợp. Tôi không biết nên làm gì tiếp theo. Tôi như mất phương hướng nên đã gọi điện cho người tư vấn của tôi, Andy van Dam.

“Andy, tôi giao đề án hai tuần cho sinh viên và họ đã mang đến cho tôi những kết quả mà nếu đó là đề án cho cả một học kỳ, thì tôi vẫn sẽ cho họ toàn điểm A. Bây giờ tôi phải làm gì đây?”

Andy suy nghĩ một phút rồi nói: “OK. Đây là thứ anh làm. Hãy trở lại lớp ngày mai, nhìn vào mắt họ và nói: ‘Các bạn, các kết quả khá tốt, nhưng tôi biết, các bạn có thể làm tốt hơn.’”

Câu trả lời của ông thật sự làm tôi u mê. Nhưng tôi đã theo lời tư vấn của ông và đạt kết quả thật mỹ mãn. Ông đã nói cho tôi là hiển nhiên tôi chưa biết mức ngưỡng sẽ phải cao tới đâu, và tôi chỉ cần làm một việc chơi khăm là đặt nó ở bất kỳ vị trí nào.

Và sinh viên lại tiếp tục hoàn thiện, bổ xung, truyền cảm hứng cho tôi với những sáng tạo của họ. Nhiều đề án phải nói là tài giỏi, thể hiện từ các cuộc phiêu lưu đi thuyền trên nước bạc, các chuyến đi thơ mộng xuyên Venice[10] tới các ninja[11] trượt pa tanh. Một số sinh viên của tôi đã sáng tạo ra những thế giới hoàn toàn không tưởng với những vật cảnh ba chiều rất đáng yêu mà họ từng mơ ước từ khi còn là những đứa trẻ thơ.

Ngày trình diễn kết quả, tôi đến lớp, thấy trong phòng có năm mươi sinh viên và năm mươi người khác nữa mà tôi chưa quen biết, đó là những người cùng phòng, bạn hoặc cha mẹ của họ. Trước đây, tôi chưa từng có cha mẹ của sinh viên tới lớp học bao giờ. Và rồi họ còn kéo theo nhiều người khác đến thêm nữa. Vì có quá nhiều người tham dự, chúng tôi phải chuyển sang một giảng đường lớn hơn. Hơn bốn trăm người đứng xem, vui mừng cổ vũ cho các trình diễn hiện thực ảo ưa thích của họ. Chủ tịch Carnegie Mellon, Jared Cohon, nói với tôi là buổi trình diễn giống như một cuộc diễu hành, chỉ có điều, nội dung ở đây là khoa học.

Vào ngày trình diễn, tôi luôn biết những đề án nào là tốt nhất. Tôi có thể căn cứ vào ngôn ngữ cử chỉ. Nếu các sinh viên của một nhóm nào đó đứng sát gần nhau, tôi biết họ gắn bó với nhau, và thế giới ảo họ phát triển sẽ là sản phẩm rất đáng để xem.

Cái tôi ưa thích trên hết là tinh thần đồng đội đã đóng vai trò trung tâm cho thành công của đề án. Những sinh viên này có thể đi xa được đến đâu? Tôi không rõ. Họ có thể hoàn tất được những ước mơ của họ hay không? Câu trả lời chắc chắn duy nhất tôi có cho câu hỏi đó là: “Trong lớp học này, bạn không thể làm việc một mình.”

***

Liệu có cách gì để nâng những việc chúng tôi đang làm lên một mức cao hơn không?

Giáo sư kịch nghệ Don Marinelli và tôi, với sự ủng hộ của nhà trường, đã làm nên điều kỳ diệu đó. Chúng tôi đã sáng lập cái gọi là “Trung tâm Công nghệ Giải trí” (The Entertainment Technology Center viết tắt là ETC, trang web http://www.etc.cmu.edu), nhưng chúng tôi muốn nghĩ tới nó như một “nhà máy hoàn tất ước mơ”: một chương trình cao học, trong đó, các nghệ sĩ và các nhà công nghệ đến với nhau để cùng làm việc cho các trò chơi công viên, các trò chơi máy tính, các hoạt hình, và bất kể thứ gì mà họ có thể nghĩ ra được.

Những trường đại học ôn hòa sẽ không bao giờ tiếp cận những ý tưởng như vậy, nhưng Carnegie Mellon lại công khai cho chúng tôi chứng chỉ để phá bỏ khuôn mẫu chật hẹp cũ.

Hai chúng tôi đã cá nhân hóa sự trộn hợp giữa nghệ thuật với công nghệ; kết hợp não phải với não trái, dân kịch nghệ với dân máy tính. Do Don và tôi khá khác biệt, ban đầu, chúng tôi đã là bức tường gạch của nhau. Nhưng chúng tôi luôn tìm được cách để cho công việc tiến triển. Kết quả, sinh viên thường nhận được các thứ tốt nhất từ những cách tiếp cận phân kỳ của hai chúng tôi (và chắc chắn, họ có được tấm gương để biết phải làm việc như thế nào với người có khác biệt với họ). Sự trộn hợp giữa tự do và chung sức đồng đội đã làm cho công việc trở nên tuyệt đối hấp dẫn. Các công ty đã nhanh chóng biết đến chúng tôi, và đưa ra những đề nghị bằng văn bản với ba năm cam kết sẽ thu nhận sinh viên của chúng tôi, điều đó có nghĩa là họ đã cam kết thu nhận cả những sinh viên mà chúng tôi chưa hề tuyển vào học.

Don đã làm 70 phần trăm việc của ETC và xứng đáng được hưởng 70 thành quả. Ông cũng mở một trường vệ tinh ở Úc, và có kế hoạch mở thêm các trường vệ tinh khác ở Hàn quốc và Singapore. Hàng trăm sinh viên, mà tôi sẽ không bao giờ quen biết, trên khắp thế giới, sẽ có điều kiện để hoàn tất các mơ ước tuổi thơ dữ dội của họ. Điều đó làm cho tôi cảm thấy vô cùng vui sướng.

27

Đất hứa

Việc giúp cho các ước mơ của những người khác có thể được thực hiện theo những quy mô khác nhau. Bạn có thể giúp cho từng người một, theo cách tôi đã làm với Tommy, người mơ ước Star Wars. Bạn có thể giúp cho năm mươi hay một trăm người một lúc, theo cách chúng tôi đã làm trong lớp học Xây dựng các Thế giới Ảo hay tại ETC (Trung tâm Công nghệ Giải trí). Và, nếu bạn có những khát vọng lớn và một chút táo bạo, bạn có thể thử làm việc đó ở một quy mô lớn, cố gắng để giúp cho các mơ ước của hàng triệu người.

Tôi nghĩ đó là trường hợp Alice, phần mềm công cụ dạy học của đại học Cernegie Mellon, mà tôi đã may mắn là người giúp phát triển. Alice cho phép các sinh viên nhập môn máy tính – và bất kỳ ai, trẻ hay già – dễ dàng sáng tạo các hoạt hình để kể một câu chuyện, chơi một trò chơi tương tác hay làm một video. Nó sử dụng đồ họa ba chiều và kỹ thuật drag-and-drop[12] (kéo-và-thả) để giúp người sử dụng có một trải nghiệm lập trình hấp dẫn và thuận tiện. Carnegie Mellon cung cấp Alice miễn phí như một dịch vụ công, và đã có hơn một triệu người tải phần mềm này về sử dụng. Trong những năm tới, số người sử dụng chắc chắn sẽ còn tăng lên nữa.

Với tôi, Alice có quy mô vô hạn. Thật dễ hình dung, sẽ có cả chục triệu đứa trẻ sử dụng nó để theo đuổi những ước mơ của chúng.

Từ lúc khởi nguồn Alice đầu những năm 1990, tôi rất yêu thích ý tưởng dạy lập trình  bằng cách dùng phương pháp giả đầu. Bạn có nhớ về giả đầu không? Đó là khi bạn dạy người khác một thứ gì đó bằng cách để họ nghĩ họ đang học một thứ khác. Các sinh viên nghĩ họ đang dùng Alice để làm phim hoặc sáng tạo các trò chơi video. Sự giả đầu ở đây là, thực chất họ đang học để trở thành những người lập trình máy tính.

Ước mơ của Walt Disney về Thế giới Disney là nó sẽ không bao giờ kết thúc. Ông muốn nó sẽ luôn phát triển và thay đổi mãi mãi. Theo cùng cách đó, tôi hồi hộp vui sướng hình dung các phiên bản tương lai của Alice do các đồng nghiệp của tôi phát triển, sẽ còn tốt hơn phiên bản chúng tôi đã làm trong quá khứ. Trong những phiên bản sắp tới, người dùng sẽ nghĩ họ đang viết các kịch bản phim, nhưng thực chất họ đang học ngôn ngữ lập trình Java. Và, cám ơn bạn tôi, Steve Seabolt ở Electronic Arts, chúng tôi đã được chấp thuận để được sử dụng cho Alice các nhân vật trong trò chơi video máy tính “The Sims[13]” bán chạy nhất trong lịch sử. Thật là một điều kỳ diệu.

Tôi biết là đề án này ở trong những bàn tay tuyệt vời. Dennis Cosgrove, kỹ sư thiết kế trưởng của đề án Alice, là một cựu sinh viên của tôi ở đại học Virginia. Một cựu sinh viên nữa, nay đã trở thành đồng nghiệp là Caitlin Kelleher. Cô đã xem “Alice” ở các giai đọạn đầu và nói với tôi, “Tôi biết nó làm cho việc lập trình trở nên dễ dàng, nhưng tại sao nó lại thú vị?” Tôi đã trả lời: “Ôi, tôi là một người đàn ông đam mê và tôi thích làm những chú lính nhỏ di chuyển theo lệnh của tôi, và thấy điều đó rất thú vị.”

Rồi Caitlin tự hỏi làm thế nào để Alice cũng trở thành thú vị như vậy đối với các cô gái, và hình dung việc kể chuyện chính là bí mật để lôi cuốn họ. Để thực hiện luận án tiến sĩ, cô đã xây dựng một hệ thống đặt tên là “Alice kể chuyện.”

Bây giờ, là một giáo sư tin học của Đại học Washington[14] tại St. Louis, Caitlin (ô, tôi ám chỉ Tiến sĩ Kelleher) đang phát triển các hệ thống mới để cách mạng hóa việc các cô gái trẻ tiếp cận những trải nghiệm lập trình đầu tiên. Cô đã chứng minh rằng nếu nó được diễn tả như một hoạt động kể chuyện, thì các cô gái sẽ hoàn tòan mong muốn học cách thức để viết phần mềm. Thực chất, họ yêu thích nó. Cũng xin nhắc là cách thức đó cũng không kém hấp dẫn đối với các chàng trai. Ai cũng yêu thích việc kể chuyện. Đó là một trong những điều đúng phổ dụng đối với lòai người chúng ta. Do vậy, trong suy nghĩ của tôi, Caitlin thắng Giải Vô địch mọi Thời đại về Giả Đầu.

Trong bài giảng cuối cùng, tôi nói là bây giờ tôi đã hiểu tốt hơn câu chuyện của Moses[15], việc ông đã thấy Đất Hứa nhưng chưa bao giờ đặt được chân lên miền đất này.  Tôi cảm nhận thấy cùng cách như vậy về tất cả những thành quả phía trước của Alice.

Tôi muốn bài giảng của tôi như một lời kêu gọi tới các đồng nghiệp và sinh viên của tôi, hãy tiếp tục đi, không có tôi, và biết rằng tôi tin tưởng là họ sẽ làm được những điều vĩ đại. (Bạn có thể tìm hiểu tiến độ của đề án tại http://www.alice.org.)

Qua Alice, hàng triệu trẻ em đang trải nghiệm sự thích thú lạ thường trong khi học một thứ khá phức tạp. Các em sẽ phát triển các kỹ năng để giúp đạt được các ước mơ của mình. Nếu tôi phải chết, thì tôi cũng được an ủi bởi có Alice như một di sản nghề nghiệp.

Do vậy, cũng OK nếu tôi chưa đặt được chân lên miền Đất Hứa. Đó vẫn là một chiêm nghiệm tuyệt vời.


[1] Tenure là phương thức hợp đồng làm việc vĩnh viễn cho giới hàn lâm, ám chỉ quyền không bị kết thúc công việc nếu không có lý do thật chính đáng.

[2] Jedi là thành viên của tầng lớp tu sĩ giả tưởng trong thiên hà Star Wars.

[3] Han Solo là nhân vật trong thế giớI Star Wars, là ngườI đơn độc, nhưng biết rõ tầm quan trọng của việc phải làm thành viên của một nhóm để phục vụ cho sự nghiệp chung.

[4] Industrial Light & Magic (ILM) là một công ty làm về hiệu ứng thị giác trong điện ảnh, được George Lucas sáng lập năm 1975.

[5] George Walton Lucas, Jr. (sinh năm 1944) là nhà sản xuất, chủ nhiệm và viết kịch bản phim người Mỹ, chủ tịch hãng Lucasfilm. Ông được biết tới nhiều nhất trong vai trò người sáng tạo phim Star Wars và nhân vật Indiana Jones.

[6] Python là một ngôn ngữ lập trình máy tính bậc cao, được đưa ra sử dụng từ năm 1991.

[7] Bang Utah của Mỹ, có thiên nhiên rất phong phú, từ những sa mạc với các đụn cát, những rừng thông trong các thung lũng, tới những núi đá.

[8] Mickey Rooney (sinh năm 1920) là một diễn viên Mỹ. Ông được nhiều giải thưởng, bao gồm cả Oscar, Golden Globe và Emmy Award. Ông được ghi trong sách kỷ lục là diễn viên có sự nghiệp sân khấu và màn ảnh lâu nhất.

[9] Judy Garland (1922 – 1969) là diễn viên và ca sĩ Mỹ. Bà đã được các giải cao quý Oscar cho diễn viên trẻ, Golden Globe, Grammy Awards và Tony Award.

[10]Venice là một thành phố ở phía bắc nước Ý, thủ phủ của vùng Veneto, nổi tiếng là “Thành phố Thanh bình”, “Thành phố Nước”, “Thành phố Cầu” và “Thành phố Ánh sáng. Venice được coi là một trong những thành phố đẹp nhất thế giới.

[11] Trong lịch sử của Nhật, một ninja là một chiến sĩ được huấn luyện đặc biệt về thuật chiến tranh, bao gồm cả ám sát, do thám và võ thuật.

[12] Trong giao diện đồ họa máy tính, drag-and-drop là thao tác nháy giữ chuột vào một đối tượng, kéo tới một vị trí khác và thả nó ở đó để tạo một dạng liên kết giữa các đối tượng.

[13] The Sims là trò chơi máy tính mô phỏng chiến lược sống do Electronic Arts sản xuất. Nhà thiết kế trò chơi Will Wright đã sáng tạo ra trò chơi này cũng như trò chơi SimCity. Đây là một mô phỏng các họat động thường ngày của một họặc nhiều nhân vật ảo (“Sims”) trong một gia đình ngọai ô gần thành phố SimCity.

[14] Đại học Washington ở St. Louis một trường đạI học tư ở thành phố St. Louis, bang Missouri. Trường được thành lập năm 1853, đặt tên theo George Washington.

[15] Moses (1393 – 1273 trước công nguyên) là một lãnh tụ tôn giáo người Do Thái. Ông được cho là tác giả của kinh Torah, cũng là một nhà tiên tri quan trọng trong Do Thái giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo và nhiều tôn giáo khác.

23/01/2009

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s