V. Về sống cuộc sống như thế nào – Bài giảng cuối cùng (phần 6)

Tác giả: Randy Pausch
Người dịch: Vũ Duy Mẫn

Phần này có thể đặt tên “Về Sống Cuộc Sống Của Bạn Như Thế Nào,” nhưng thực sự nó là về tôi đã cố gắng sống cuộc sống của tôi như thế nào. Tôi đoán đó là cách để nói: Đây là những gì đúng với tôi.

— R. P.

28

Mơ uớc lớn

Con người lần đầu tiên đặt chân lên mặt trăng vào mùa hè năm 1969, khi tôi được tám tuổi. Với sự kiện đó, tôi đã biết hầu như mọi thứ đều là có thể. Tất cả chúng ta, trên toàn trái đất, đã được phép để mơ những ước mơ lớn.

Tôi đang đi cắm trại mùa hè đó, và sau khi mô đun mặt trăng hạ cánh, tất cả chúng tôi được đưa đến nhà chính của trại, ở đó có một chiếc tivi. Các phi công vũ trụ đã phải chuẩn bị khá lâu trước khi leo xuống thang và bước đi trên bề mặt của mặt trăng. Tôi hiểu. Họ có rất nhiều thiết bị, rất nhiều chi tiết cần phải được chú ý. Tôi kiên nhẫn chờ.

Nhưng những người trông coi trại lại luôn nhìn đồng hồ của họ. Đã quá mười một giờ đêm. Cuối cùng, trong khi những quyết định thông minh được thực hiện trên mặt trăng, thì một quyết định ngu xuẩn đã được thực hiện ở đây trên Trái đất. Vì quá khuya, tất cả trẻ con chúng tôi phải trở về lều để đi ngủ.

Tôi hoàn toàn giận dỗi với các giám đốc trại. Ý nghĩ trong đầu tôi lúc đó là: “Loài người đã rời khỏi hành tinh của chúng ta và lần đầu tiên đặt chân lên một thế giới mới, còn các ông thì lại nghĩ tới chuyện đi ngủ?”

Khi tôi trở về nhà vài tuần sau, tôi được biết là bố tôi đã chụp một bức ảnh từ tivi của chúng tôi lúc Neil Armstrong[1] đặt chân lên mặt trăng. Ông đã giữ lại thời khắc đó cho tôi, biết rằng nó sẽ giúp khêu gợi cho tôi những ước mơ lớn. Chúng tôi vẫn giữ bức ảnh này trong một cuốn sách tranh.

Cảnh hạ cánh xuống mặt trăng do bố tôi chụp từ tivi của chúng tôi

Tôi hiểu những lý lẽ về hàng tỷ đô la chi cho việc đưa người lên mặt trăng có thể được sử dụng để chống đói nghèo trên Trái đất. Nhưng, hãy xem, tôi là một nhà khoa học, tôi nhìn nhận cảm hứng là công cụ đích thực để làm nên những điều tốt đẹp.

Khi bạn dùng tiền để chống đói nghèo, có thể nó có giá trị lớn, nhưng khá thông thường, bạn đang làm việc trong các giới hạn chật hẹp. Khi bạn đưa người lên mặt trăng, bạn gây cảm hứng cho tất cả mọi người hướng tới cái tối đa của tiềm năng con người, đó là cách để cuối cùng chúng ta sẽ tìm được lời giải cho những vấn đề lớn nhất.

Hãy tự cho phép bạn mơ ước. Hãy khích lệ những ước mơ của cả con cái các bạn. Điều đó có nghĩa là, thỉnh thoảng, cũng phải để chúng thức khuya hơn giờ đi ngủ của chúng.

29

Sự chân thành tốt hơn là sự hợp thời

Tôi luôn coi trọng một người chân thành hơn là một người hợp thời, bởi hợp thời là ngắn hạn, còn chân thành là dài hạn.

Sự chân thành hay bị đánh giá quá thấp, bởi nó đến từ tận đáy lòng, đôi khi khó nhận ra, trong khi hợp thời lại dễ thấy bởi nó là sự cố gắng gây ấn tượng với vẻ bề ngoài.

Người “hợp thời” ưa thích những sự nhại lại. Nhưng làm gì có cái gì có thể cứ nhại lại được một cách vô tận? Tôi tôn trọng người chân thành, bởi họ thường làm được những thứ có thể trường tồn hàng thế hệ.

Khi tôi nghĩ về một người chân thành, tôi nghĩ đến một nam hướng đạo viên (boy scout) làm việc rất nghiêm túc để trở thành một Eagle Scout[2]. Khi phỏng vấn tuyển người làm việc, và gặp ứng viên là Eagle Scout, tôi gần như luôn luôn cố gắng để thu nhận anh ta. Tôi biết là có một sự chân thành ở anh ta, thứ vượt trội hơn hẳn so với những viện chứng hời hợt của những kẻ hợp thời.

Hãy nghĩ mà xem. Trở thành một Eagle Scout gần như là thứ duy nhất bạn có thể đưa vào lý lịch của bạn ở tuổi năm mươi một thứ mà bạn đã làm ở tuổi mười bốn – và nó vẫn gây ấn tượng. (Mặc những nỗ lực của tôi về sự chân thành, tôi vẫn không đạt được danh hiệu Eagle Scout.)

Quần áo của tôi không mấy thay đổi

Nhân thể, nhắc tới thời trang, đó là thứ mà thương mại lừa bịp là sự hợp thời. Tôi không mảy may quan tâm tới thời trang, do vậy tôi rất ít mua quần áo mới. Thực tế là thời trang mất tính thời trang và rồi lại quay trở lại thành thời trang chỉ tùy thuộc vào một số ít người ở đâu đó nghĩ họ có thể bán được chúng. Với tôi, đó là một sự điên rồ.

Cha mẹ tôi đã dạy tôi: Con mua quần áo mới khi quần áo cũ của con hỏng. Những ai đã thấy đồ tôi mặc tới buổi giảng bài cuối cùng thì hiểu tôi đã sống với lời dạy này!

Quần áo của tôi còn xa mới là hợp thời. Đó là một kiểu chân thành. Nó theo đi cùng tôi, hoàn toàn không có vấn đề gì.

30

Dương cờ trắng

Mẹ tôi luôn gọi tôi là “Randolph.”

Bà lớn lên ở một trang trại sữa nhỏ thuộc bang Virginia trong thời gian của cuộc suy thoái (Depression[3]), luôn lo lắng liệu có đủ thức ăn cho bữa sau. Bà đặt tên “Randolph” bởi đó là cái tên mà một số người ưu tú xứ Virginia có. Và đó là lý do mà tôi từ chối và ghét cay ghét đắng nó. Ai muốn có một cái tên như vậy?

Mẹ tôi thì vẫn thích nó. Khi ở tuổi thiếu niên, tôi đã đối chất với bà. “Có đúng là mẹ tin quyền gọi tên con của mẹ là cao hơn quyền con được có bản tính riêng của con?”

“Đúng, Randolph, mẹ có quyền như vậy,” bà trả lời.

Ít nhất là chúng tôi đã biết vị trí của mỗi người.

Khi đi học đại học, tôi đã thấy quá đủ. Bà gửi thư cho tôi và đề “Randolph Pausch.” Tôi không mở thư, viết nguệch ngọac “không có người như vậy ở địa chỉ này” lên phong bì, và gửi trả lại.

Để thỏa hiệp, mẹ tôi bắt đầu đề thư gửi tới “R. Pausch.” Tôi mở những bức thư này. Nhưng khi nói chuyện trên điện thoại, bà trở lại dùng tên cũ. “Randolph, con có nhận được thư của bố mẹ không?”

Bây giờ, sau tất cả những năm tháng ấy, tôi đã đầu hàng. Tôi biết ơn mẹ tôi về rất nhiều thứ, nên nếu bà có làm phiền lòng tôi về mấy chữ cái không cần thiết “olph” mỗi khi bà ở quanh tôi, thì tôi cũng vui mừng bỏ qua. Cuộc sống thật quá ngắn ngủi.

Mẹ và tôi trên bãi biển.

Theo một cách nào đo, với sự trôi đi của thời gian, và những mốc hẹn mà cuộc sống áp đặt, đầu hàng đôi khi là thứ đúng đắn nên làm.

31

Hãy làm một thỏa thuận

Khi học ở trường cao học, tôi nhiễm thói quen là ngả người ra lưng ghế bàn ăn. Tôi làm điều đó mỗi khi về nhà thăm cha mẹ, và mẹ liên tục quở trách tôi. “Randolph, con sẽ làm hỏng chiếc ghế!” bà nói.

Tôi muốn ngả ngưởi trong ghế. Nó làm tôi thoải mái. Và chiếc ghế tỏ ra hoàn toàn yên ổn trên chỉ hai chân của nó. Do vậy, bữa ăn này đến bữa ăn khác, tôi ngả người và bà quở trách.

Một hôm, mẹ tôi nói, “Hãy ngừng ngả người trong chiếc ghế này. Mẹ sẽ không nói với con thêm một lần nữa!”

Điều mẹ tôi tuyên bố, giống như một thứ mà tôi có thể ký vào đấy. Cho nên tôi đã đề nghị thiết lập một hợp đồng – một loại thỏa thuận giữa cha mẹ và con cái bằng giấy trắng mực đen. Nếu tôi làm gẫy ghế, tôi sẽ trả tiền để thay thế, không những chỉ chiếc ghế, mà toàn bộ bộ bàn ghế ăn. (Thay thế một chiếc ghế của một bộ đồ hai mươi năm tuổi là điều không thể làm được.) Nhưng, cho tới lúc tôi thật sự làm gẫy ghế, thì mẹ tôi sẽ không lên lớp cho tôi nữa.

Chắc chắn là mẹ tôi có lý; tôi đã hành hạ những chiếc chân ghế. Nhưng cả hai chúng tôi đều thống nhất, thỏa thuận như vậy là cách để tránh những tranh cãi. Tôi chấp nhận trách nhiệm của mình trong trường hợp có hư hỏng. Còn mẹ tôi thì ở trong tư thế để có thể nói “Đáng nhẽ con phải luôn nghe lời mẹ” nếu một chiếc chân ghế bị gẫy.

Chiếc ghế không bao giờ bị gẫy. Và mỗi khi về nhà, tôi vẫn ngồi dựa ngả người trong ghế, và thỏa thuận của chúng tôi vẫn có hiệu lực. Thực tế là, toàn bộ tình huống có phần được thay đổi. Tôi không nói là mẹ tôi hẳn đã khuyến khích tôi dựa ngả vào ghế. Nhưng tôi nghĩ, mẹ tôi đã hướng mắt của bà tới một bộ bàn ghế ăn mới.

32

Không than vãn, hãy làm việc tích cực hơn

Trong cuộc sống, có quá nhiều người hay than vãn về các vấn đề của họ. Tôi luôn tin rằng nếu bạn lấy một phần mười năng lượng cho việc than vãn để dùng vào việc giải quyết vấn đề, thì bạn sẽ ngạc nhiên thấy công việc trôi chảy.

Tôi biết những người thật tuyệt vời, không bao giờ than vãn. Một trong những người đó là Sandy Blatt, chủ nhà trọ lúc tôi học cao học. Khi ông còn là một thanh niên, một chiếc xe tải đã lùi phải ông khi ông đang xếp dỡ các thùng vào hầm chứa của tòa nhà. “Cú ngã có xa không?” tôi hỏi. Câu trả lời của ông rất đơn giản: “Đủ xa.” Cả phần đời còn lại, ông không có cả hai tay lẫn hai chân.

Vào thời gian xảy ra tai nạn, Sandy là một vận động viên tuyệt vời, ông đang đính hôn và chuẩn bị cưới vợ. Ông không muốn trở thành gánh nặng cho vị hôn thê, nên đã nói với bà, “Em không hề cam kết với hoàn cảnh như thế này. Anh sẽ hiểu, nếu em muốn rút lui. Em có thể ra đi trong bình yên.” Và bà đã làm như vậy.

Tôi gặp Sandy khi ông giữa tuổi ba mươi, và ngay lập tức, ông đã chinh phục tôi bằng thái độ của ông. Ông không bao giờ than vãn về cảnh ngộ của mình. Ông làm việc rất nghiêm túc và được cấp giấy phép để hành nghề tư vấn về hôn nhân. Ông đã kết hôn và nhận con nuôi. Và khi nói về tình trạng sức khỏe của mình, ông nói rất thực tế.  Có lần ông giải thích với tôi, sự thay đổi nhiệt độ là rất tồi tệ đối với người không có tứ chi bởi họ không biết rùng mình. “Anh có thể đưa cho tôi cái chăn được không, Randy?” ông chỉ nói có vậy.

Người không than vãn ưa thích nhất của tôi là Jackie Robinson, cầu thủ người Mỹ da đen đầu tiên chơi bóng bầu dục ở ngọai hạng. Ông đã phải chịu đựng sự phân biệt chủng tộc mà ngày nay nhiều thanh niên không hề muốn nghĩ tới. Ông biết ông phải chơi tốt hơn những cầu thủ da trắng, và ông biết ông phải làm việc tích cực hơn nhiều. Và đó là những thứ ông đã làm. Ông không bao giờ than vãn, ngay cả khi cổ động viên nhổ nước bọt vào ông.

Tôi có một bức ảnh của Jackie Robinson treo trong phòng làm việc, và tôi khá buồn vì nhiều sinh viên của tôi không biết, hoặc biết rất ít về ông. Nhiều người còn không hề để ý tới bức ảnh đó. Lớp trẻ lớn lên với tivi màu nên chẳng hề dành thời gian để quan sát những bức ảnh đen trắng.

Đó là điều rất không hay. Thật không có tấm gương nào tốt hơn những con người như Jackie Robinson và Sandy Blatt. Thông điệp trong những câu chuyện của họ là: Than vãn chẳng làm được gì với tư cách một chiến lược. Tất cả chúng ta đều chỉ có hữu hạn thời gian và năng lượng. Thời gian chúng ta dành để than vãn chẳng hề giúp ta đạt được các mục đích của chúng ta. Và nó không làm chúng ta hạnh phúc hơn lên.

33

Chữa căn bệnh, chứ không chữa triệu chứng

Nhiều năm trước đây, tôi kết bạn với một cô gái rất đáng yêu. Cô ta nợ số tiền lên đến vài nghìn đô la. Cô ta khá căng thẳng bức xúc về việc này. Mỗi tháng, số tiền nợ lại tăng thêm lên.

Để đối phó với sự căng thẳng, các tối thứ Ba hàng tuần cô tới lớp luyện thiền và yoga. Đó là buổi tối tự do của cô, và cô nói việc đó tỏ ra hữu ích cho cô. Cô thở vào, tưởng tượng rằng cô đang tìm được những cách thức để đối phó với số tiền nợ của cô. Cô thở ra, tự nói với mình rằng rồi một ngày nào đó, các vấn đề tiền bạc của cô sẽ biến đi.

Sự việc cứ tiếp tục như thế, thứ Ba tiếp nối thứ Ba.

Cuối cùng, một hôm tôi đã ngồi xem lại vấn đề tài chính cùng cô. Tôi thấy, nếu cô dành bốn hoặc năm tháng làm một công việc bán thời gian vào các buổi tối thứ Ba, thì cô có thể trả hết toàn bộ số tiền cô đã vay nợ.

Tôi nói với cô, tôi không hề phản đối yoga hay thiền. Nhưng tôi nghĩ tốt nhất là nên cố gắng để trước hết chữa căn nguyên của bệnh. Các triệu chứng của cô là sự căng thẳng và lo sợ. Căn bệnh của cô là số tiền cô mắc nợ.

“Tại sao em không nhận một công việc để làm vào các tối thứ Ba và bỏ yoga trong một thời gian?” tôi đề nghị.

Lời của tôi như là một thứ phát giác đối với cô. Và cô đã làm theo lời khuyên của tôi. Cô trở thành người phục vụ bàn các tối thứ Ba và nhanh chóng trả hết số tiền nợ. Sau đó, cô trở lại lớp yoga và thật sự thở được dễ dàng hơn.

34

Đừng ám ảnh về những gì người khác nghĩ

Tôi thấy một phần khá quan trọng trong một ngày của nhiều người được dành để lo lắng về những gì mọi người nghĩ về họ. Nếu không ai phải lo lắng về những gì ở trong đầu những người khác, thì tất cả chúng ta đã có thể 33 phần trăm hiệu quả hơn trong cuộc sống và trong công việc của chúng ta.

Tại sao tôi lại có con số 33 phần trăm? Tôi là một nhà khoa học. Tôi thích nhũng con số chính xác, ngay cả khi tôi không luôn chứng minh được chúng. Vậy, hãy cứ chấp nhận 33 phần trăm.

Tôi thường nói với những người làm việc trong nhóm nghiên cứu của tôi: “Các bạn không cần phải lo lắng về những gì tôi nghĩ, dù tốt hay xấu. Tôi sẽ nói cho các bạn biết những gì ở trong đầu của tôi.”

Điều đó có nghĩa là, khi tôi không hài lòng về một thứ gì đó, tôi sẽ nói ra, thường là thẳng thắn và không phải lúc nào cũng tế nhị.  Nhưng có mặt tích cực là tôi có khả năng đảm bảo với mọi người: “Nếu tôi không nói, thì các bạn không có điều gì phải lo lắng cả.”

Sinh viên và đồng nghiệp dần dần trân trọng điều đó, và họ không phải phí cả đống thởi gian bị ám ảnh về việc “Randy đang nghĩ cái gì?” Bởi hầu như tất cả những gì tôi nghĩ là: Tôi có mọi người trong nhóm làm việc và sống 33 phần trăm hiệu quả hơn những người khác. Đó là thứ ở trong đầu tôi.

35

Bắt đầu bằng cách ngồi lại cùng với nhau

Khi tôi phải làm việc cùng với người khác, tôi cố gắng hình dung chúng tôi ngồi cùng nhau với một xấp các quân bài. Sự thôi thúc của tôi là đặt tất cả các quân bài lên bàn, lật ngửa, và nói với cả nhóm: “OK, chúng ta cùng nhau có thể làm gì với những quân bài này?”

Khả năng làm việc được tốt trong nhóm là một kỹ sảo quan trọng và cần thiết trong cả công việc lẫn cuộc sống gia đình. Để dạy kỹ sảo này, tôi luôn ghép sinh viên thành các nhóm để làm việc cho các đề án.

Với năm tháng, việc cải tiến động lực nhóm trở thành một nỗi ám ảnh đối với tôi. Vào ngày đầu tiên của mỗi học kỳ, tôi tách lớp của tôi thành hàng chục nhóm bốn người. Rồi trong ngày thứ hai, tôi phát cho sinh viên một trang với tiêu đề “Những lời khuyên để làm việc được thành công trong nhóm.”  Chúng tôi cùng trao đổi, từng điểm một. Một số sinh viên thấy những lời khuyên của tôi là không xứng với họ. Họ nhướng mắt, nghĩ họ đã biết cách hợp tác tốt với nhau. Họ đã được học những thứ đó ở nhà trẻ, và không cần những lời khuyên sơ đẳng của tôi.

Nhưng hầu hết những sinh viên có ý thức đều đón nhận chúng. Họ cảm nhận thấy tôi đang cố gắng dạy họ những gì rất cơ bản. Có chút ít gì đó giống như Huấn luyện viên Graham tới buổi tập mà không mang theo bóng. Đây là một số những lời khuyên của tôi:

Làm quen với mọi người một cách đúng mực: Tất cả đều bắt đầu với việc giới thiệu. Hãy trao đổi các thông tin để liên lạc với nhau. Hãy đảm bảo là bạn phát âm đúng tên của từng người một.

Hãy tìm những điểm chung của các bạn: Bạn luôn có thể tìm được những điểm chung với người khác, và từ đó, sẽ dễ dàng hơn để nói về những điểm khác biệt. Thể thao là thứ xuyên xuốt các chủng tộc và tầng lớp. Và nếu không có gì khác nữa, thì chúng ta vẫn có chung một thứ là thời tiết.

Cố gắng tạo các điều kiện tối ưu cho việc làm quen nhau: Hãy đảm bảo là không ai bị đói, lạnh hoặc mệt mỏi. Gặp gỡ làm quen nhau qua bữa ăn nếu có thể được, thức ăn làm thuận lợi cho một cuộc gặp mặt. Đó là lý do tại sao mọi người lại đi “ăn trưa” cùng nhau ở Hollywood.

Để mọi người đều nói: Không ngắt câu của người khác. Nói to hơn, nhanh hơn không làm cho ý tưởng của bạn tốt hơn chút nào cả.

Hãy kiềm chế cái tôi: Khi thảo luận các ý tưởng, hãy gán nhãn và viết chúng xuống. Nhãn phải là mô tả về ý tưởng, không phải về người có ý tưởng: “câu chuyện về chiếc cầu” chứ không phải “câu chuyện của Jane.”

Biểu dương lẫn nhau: Hãy tìm vài lời tốt đẹp để nói, ngay cả khi có một chút nói ngoa. Những ý tưởng tồi tệ nhất vẫn có thể có những nét hay nếu bạn thật cố gắng xem xét.

Hãy phát biểu các lựa chọn như những câu hỏi: Thay vì nói “Tôi nghĩ là chúng ta cần phải làm A, chứ không phải B,” hãy cố gắng để nói “Sẽ như thế nào nếu chúng ta làm A, thay vì B?” Như vậy sẽ cho phép mọi người đưa ra ý kiến thay vì phải bảo vệ một lựa chọn.

Khi kết thúc bài giảng ngắn, tôi nói với sinh viên là tôi có một cách khá tốt để điểm danh. “Sẽ dễ dàng hơn cho tôi nếu tôi điểm danh các bạn theo nhóm,” tôi nói. “Nhóm Một, các bạn hãy giơ tay lên… Nhóm Hai? …”

Khi tôi gọi mỗi nhóm, các cánh tay giơ lên. “Có ai để ý điều gì không?” tôi hỏi. Không ai có câu trả lời. Do vậy tôi gọi lại tên các nhóm. “Nhóm Một? …Nhóm Hai? … Nhóm Ba? …” Các cánh tay từ khắp các góc trong phòng lại giơ lên.

Đôi khi bạn phải tạo một chút kịch tính để truyền đạt cho sinh viên, đặc biệt về những vấn đề mà họ nghĩ là họ đã biết. Đây là những gì tôi đã làm:

Tôi tiếp tục điểm danh cho tới lúc cuối cùng tôi phải cao giọng. “Vì cớ quái quỉ gì mà các anh các chị vẫn ngồi cùng với bạn của mình? Tôi hỏi. “Tại sao các anh các chị không ngồi cùng những người trong nhóm của mình?”

Một số người biết sự bực mình của tôi là để gây tác động, nhưng ai cũng thấy sự nghiêm trọng. “Tôi sẽ ra khỏi lớp,” tôi nói, “và sẽ trở lại sau sáu mươi giây. Khi quay trở lại, tôi trông đợi các bạn sẽ ngồi cùng với nhóm của mình! Tất cả đã hiểu chưa?” Tôi bước ra khỏi lớp và nghe sự xôn xao ở trong phòng, khi sinh viên thu nhặt túi sách và tráo lại chỗ để ngồi thành nhóm.

Khi quay trở lại, tôi đã giải thích, những lời khuyên của tôi về làm việc theo nhóm không phải để xúc phạm trí tuệ hay sự trưởng thành của mọi người. Tôi chỉ muốn cho họ thấy là họ đã bỏ quên một thứ rất đơn giản –thực tế là họ cần phải ngồi với người cùng nhóm – và như vậy, chắc chắn họ có thể thu lượm được nhiều điều bổ ích từ việc ôn lại những thứ rất cơ bản.

Tại buổi lên lớp tiếp theo, và suốt phần còn lại của học kỳ, sinh viên của tôi luôn luôn ngồi cùng nhóm của họ.

36

Hãy tìm điều tốt nhất ở mỗi người

Đó là một lời khuyên rất tốt mà tôi đã nhận được từ Jon Snoddy, vị anh hùng của tôi ở Disney Imagineering. Tôi vô cùng được thuyết phục bởi cách ông diễn đạt điều đó. “Nếu bạn đợi đủ lâu,” ông nói, “mọi người sẽ gây bất ngờ và ấn tượng cho bạn.”

Như ông nhìn sự việc: Nếu bạn thất vọng với mọi người, nếu họ làm bạn tức giận, đó có thể chỉ bởi vì bạn chưa cho họ đủ thời gian.

Jon cảnh báo với tôi rằng đôi khi cần rất kiên nhẫn – kể cả hàng năm. “Nhưng cuối cùng,” ông nói, “mọi người sẽ cho bạn thấy mặt tốt của họ. Hầu như mỗi người đều có một mặt tốt. Chỉ cần chờ đợi. Cái tốt sẽ bộc lộ.”

37

Hãy xem những gì họ làm, đừng nghe những gì họ nói

Con gái tôi mới mười tám tháng tuổi, nên tôi không thể nói với nó ngay lúc này, nhưng khi nó đủ lớn, tôi muốn Chloe biết đôi điều mà một đồng nghiệp nữ đã có lần nói với tôi, đó là một lời khuyên tốt cho những thiếu nữ ở bất cứ đâu. Thực sự, nếu đem lên bàn cân, thì đó là lời khuyên tốt nhất mà tôi đã từng được nghe.

Đồng nghiệp đó nói với tôi: “Phải mất nhiều thời gian, nhưng cuối cùng tôi đã vỡ nhẽ ra một điều. Với những người đàn ông quan tâm tới bạn một cách lãng mạn, thì thật giản đơn. Hãy bỏ qua mọi thứ họ nói và chỉ chú ý tới những gì họ làm.”

Đúng. Vậy nên đây là thứ dành cho Chloe.

Và khi tôi nghĩ về điều này, một ngày nào đó, lời khuyên đó cũng sẽ rất hữu ích cho cả  Dylan và Logan nữa.

38

Nếu ngay từ đầu bạn không đạt được kết quả (thành công) …

… Hãy thử, thử dùng một câu sáo ngữ.

Tôi thích những câu sáo ngữ. Càng nhiều càng tốt. Theo tôi, nguyên nhân để các câu sáo ngữ được nhắc đi nhắc lại, là bởi vì chúng thường đúng.

Các nhà giáo không cần phải ngại ngần với những câu sáo ngữ. Bạn có biết tại sao không? Bởi người trẻ tuổi không biết tới những câu nói đó! Họ là một cử tọa mới, và họ được truyền cảm hứng với những câu sáo ngữ. Tôi đã thấy điều đó nhiều lần trong lớp học của tôi.

Hãy khiêu vũ với người đưa bạn đến. Đó là một sáo ngữ mà cha mẹ tôi luôn nói với tôi, và nó có thể được áp dụng ra bên ngoài đêm vũ hội cuối năm học (prom[4]). Đó cần phải là một nghệ thuật chuẩn mực trong giới doanh nghiệp, trong giới hàn lâm, và trong gia đình. Nó là một lời nhắc nhở về sự trung thành và sự biết ơn.

May mắn là thứ nảy sinh khi sự chuẩn bị gặp gỡ với cơ hội. Câu nói này là của Seneca, triết gia La mã sinh năm thứ 5 trước công nguyên. Câu nói vẫn còn đáng giá để được nhắc lại thêm ít nhất là hai ngàn năm nữa.

Dù bạn nghĩ là bạn có thể hoặc không thể, bạn vẫn đúng. Đó là câu trong danh mục các sáo ngữ của tôi dành cho những sinh viên mới.

Ngoài những thứ đó ra, thì cuộc chơi đã ra sao? Tôi sẽ nói như vậy với sinh viên, như một lời nhắc nhở: không nên tập trung vào những vấn đề nhỏ, trong khi lại bỏ qua những vấn đề chính.

Tôi cũng rất thích những trào lưu văn hóa đại chúng. Tôi không thấy có vấn đề gì khi các con tôi xem Superman[5], không phải vì anh ta khỏe mạnh và biết bay, mà bởi anh ta chiến đấu cho “lẽ phải, công bằng và con đường Mỹ.” Tôi rất thích câu này.

Tôi thích bộ phim Rocky[6], thích cả nhạc cảnh trong phim đó. Cái tôi thích nhất là Rocky đã không quan tâm tới việc anh thắng hay thua trong trận đấu ở cuối phim. Anh chỉ không muốn bị đánh gục. Đó là mục tiêu của anh. Trong những thời gian trị liệu đau đớn nhất, Rocky đã là một tấm gương cho tôi, bởi anh đã nhắc nhở tôi: cái quan trọng không phải là bạn đánh mạnh như thế nào, mà là bạn bị đánh ác liệt ra sao … và hãy cứ tiếp tục tiến lên.

Tất nhiên, trong tất cả các câu sáo ngữ trên thế gian này, tôi thích nhất các sáo ngữ về bóng bầu dục. Các đồng nghiệp thường thấy tôi đi trong hành lang của Carnegie Mellon tung quả bóng bầu dục lên xuống trước mặt tôi. Làm như vậy thật sự giúp tôi suy nghĩ được tốt hơn. Có thể, các sáo ngữ cũng như các ẩn dụ bóng bầu dục cũng có cùng hiệu ứng như vậy đối với tôi. Nhưng một vài sinh viên của tôi, cả nữ lẫn nam, lại có vẻ khó thích nghi. Họ thảo luận về thuật toán máy tính còn tôi lại nói về bóng bầu dục. “Xin lỗi,” tôi nói với họ. “Nhưng việc các bạn học thêm vài thứ cơ bản về bóng bầu dục sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc tôi phải học thêm một mớ những câu sáo ngữ đời thường khác.”

Tôi muốn các sinh viên của tôi sẽ thắng một lần cho Gipper[7]. Sinh viên của tôi đều biết: Quan trọng không phải là việc bạn thắng hay thua, mà là việc bạn chơi như thế nào.

39

Hãy là con chim cánh cụt đầu tiên

Kinh nghiệm là thứ bạn thu được khi bạn không đạt được cái mà bạn đã mong muốn.

Đó là một phát biểu tôi học được khi tôi làm sabbatical tại Electronic Arts, một công ty sản xuất trò chơi video. Câu nói đó đã lưu lại trong đầu tôi, và cuối cùng tôi đã nhắc đi nhắc lại câu nói đó với sinh viên của tôi.

Đó là câu nói rất đáng để xem xét mỗi khi chúng ta vấp phải bức tường gạch, và mỗi khi chúng ta thất vọng về một điều gì đó. Nó cũng là một lời nhắc nhở rằng thất bại không những là có thể chấp nhận được, mà thường còn là thiết yếu.

Khi tôi dạy môn “Xây dựng các thế giới ảo”, tôi đã khuyến khích sinh viên thử làm những việc khó khăn, táo bạo và đừng lo lắng về sự thất bại. Tôi muốn thưởng công cho cách suy nghĩ như vậy. Cho nên cuối mỗi học kỳ, tôi tặng một nhóm sinh viên một con thú nhồi – một con chim cánh cụt, gọi là “Phần thưởng Chim cánh cụt đầu tiên” và phần thưởng được tặng cho nhóm mạo hiểm nhất trong việc cố gắng thử một ý tưởng hoặc một công nghệ mới, và thất bại vì không thực hiện được những mục tiêu đã đề ra. Về thực chất, đó là một phần thưởng cho “thất bại vẻ vang,” để tôn vinh cách suy nghĩ sáng tạo, dùng sự tưởng tượng theo một cách táo bạo.

Những sinh viên khác hiểu rằng: những người thắng “Chim cánh cụt đầu tiên” là những người thua cuộc nhưng chắc chắn họ sẽ đi tới một đích nào đó.

Tên của phần thưởng là do ý niệm, khi những con chim cánh cụt chuẩn bị nhẩy xuống nước, mà ở dưới đó có những con thú ăn thịt, thì, chắc chắn, ai đó sẽ phải là con chim cánh cụt đầu tiên nhảy xuống. Lúc đầu tôi gọi phần thưởng là “Giải thưởng Thất bại Tốt nhất,” nhưng chữ thất bại hàm chứa qúa nhiều ý nghĩa xấu, nên sinh viên không thoát được nỗi ám ảnh của chữ đó.

Nhiều năm qua, tôi cũng nêu quan điểm và nói với sinh viên của tôi rằng trong công nghiệp giải trí, có vô số những sản phẩm thất bại. Nó không giống như xây nhà ở, khi mỗi căn nhà xây xong đều có thể có ai đó ở được. Một trò chơi video có thể được sáng tạo ra, nhưng nó không bao giờ vượt qua được giai đoạn nghiên cứu và phát triển. Hoặc, nó có thể được sản xuất ra, nhưng chẳng có ai muốn chơi nó cả. Đúng, những người sáng tạo trò chơi video khi thành công thì có giá trị rất cao. Nhưng những người thất bại, họ cũng có giá trị – đôi khi còn nhiều hơn cả những người thành công.

Những công ty mới sáng lập thường ưa tuyển một tổng giám đốc đã có một công ty mới sáng lập bị thất bại trong lý lịch của ông hoặc bà ta. Người đã từng thất bại thường biết cách tránh thất bại trong tương lai. Người chỉ biết tới thành công có thể không chú ý tới những chông gai cạm bẫy.

Kinh nghiệm là thứ bạn thu được khi bạn không đạt được cái mà bạn đã mong muốn. Và kinh nghiệm thường là thứ giá trị nhất mà bạn có thể chia sẻ.

40

Thu hút sự chú ý của mọi người

Nhiều sinh viên của tôi rất thông minh. Tôi biết họ sẽ ra trường, bước vào thế giới công việc và sáng tạo ra những sản phẩm phần mềm, những đề án hoạt hình và những thiết bị giải trí tuyệt vời. Tôi cũng biết họ có tiềm năng để làm thất vọng cả triệu người trong tiến trình đó.

Trong chúng ta, những người là kỹ sư, chuyên gia tin học, không phải họ luôn luôn nghĩ về cách để làm thế nào phát triển được các sản phẩm dễ sử dụng. Có nhiều người thật kém cỏi trong việc giải thích các công việc phức hợp theo cách thức đơn giản. Nếu bạn đã từng đọc cuốn sách nhỏ hướng dẫn sử dụng máy ghi phát băng hình (VCR) thì bạn hiểu về sự thất vọng mà tôi muốn nói tới.

Do vậy mà tôi muốn nhấn mạnh với sinh viên về tầm quan trọng của việc nghĩ tới người sử dụng cuối cùng trong các sáng tạo của họ. Làm cách nào để tôi có thể nói rõ với họ việc đừng sáng tạo thứ công nghệ làm thất vọng người dùng là quan trọng ra sao? Tôi đã nghĩ ra một cách chắc chắn thành công.

Khi giảng lớp “giao diện người dùng” ở Đại học Virginia, vào ngày đầu tiên, tôi mang một máy VCR còn hoạt động tới lớp.  Tôi đặt chiếc máy lên bàn, ngay phía trước. Tôi rút một chiếc búa ra. Tôi đập tan chiếc máy VCR.

Rồi tôi nói: “Nếu chúng ta làm một thứ khó sử dụng, mọi người sẽ thất vọng. Họ sẽ tức giận tới mức họ muốn phá hủy nó. Chúng ta không muốn sáng tạo những thứ để mọi người muốn phá hủy.”

Sinh viên nhìn tôi và tôi có thể nói là họ bị sốc, ngơ ngác và có một chút thích thú. Sự việc gây hứng thú cho họ. Họ đã nghĩ: “Không biết ông thầy này là người thế nào, nhưng chắc chắn ngày mai mình phải đến lớp để xem ông ta sẽ biểu diễn trò gì tiếp theo.”

Tôi đã thu hút được sự chú ý của họ. Đó luôn luôn là bước đầu tiên để giải quyết một vấn đề bị bỏ quên. (Khi tôi rời Đại học Virginia để tới Carnegie Mellon, bạn và đồng nghiệp của tôi, giáo sư Gabe Robins đã tặng tôi một chiếc búa với một biển khắc chữ gắn kèm. Biển chữ ghi: “Thật nhiều VCR, mà thật ít thời gian!”)

Tất cả sinh viên từ những ngày ở Đại học Virginia của tôi hiện đã ra nhập đội ngũ những người làm việc. Khi họ sáng tạo những công nghệ mới, tôi hy vọng, thỉnh thoảng tôi lại xuất hiện trở về trong ký ức của họ, tay vung chiếc búa, nhắc nhở họ về những kẻ thất vọng, đang gào thét cho sự giản đơn.

41

Sự biến mất của những lá thư cám ơn

Thể hiện sự biết ơn là một trong những thứ đơn giản nhất nhưng cũng sâu sắc nhất mà con người có thể làm cho nhau. Và mặc sự yêu thích tính hiệu quả, tôi vẫn nghĩ những lá thư cám ơn tốt nhất là được viết bằng bút và trên giấy.

Những người phỏng vấn tuyển việc và nhập học tiếp xúc với rất nhiều ứng viên. Họ đọc hàng tấn lý lịch của những sinh viên loại “A” với rất nhiều thành tích. Nhưng họ không được đọc nhiều lá thư cám ơn viết bằng tay.

Nếu bạn là một sinh viên loại B+, lá thư cám ơn viết bằng tay của bạn sẽ nâng bạn lên tối thiểu là nửa điểm trong mắt của những vị sếp tương lai hay những viên chức tuyển sinh. Đối với họ, bạn sẽ trở thành một sinh viên loại “A”. Và bởi những lá thư viết tay ngày càng trở nên hiếm, nên họ sẽ nhớ tới bạn.

Khi đưa ra lời khuyên này cho sinh viên, tôi không muốn làm họ trở thành những kẻ âm mưu tính toán, mặc dù tôi biết một số người đã tiếp nhận nó theo nghĩa này. Lời khuyên của tôi chủ yếu để giúp họ nhận biết rằng: có những sự tôn kính và chu đáo có thể thực hiện được trong cuộc sống, chúng làm cho người nhận cảm kích, và chỉ có thể mang lại những kết quả tốt đẹp.

Thí dụ, có một phụ nữ trẻ nộp đơn xin vào ETC và chúng tôi đang chuẩn bị để từ chối cô. Cô có những ước mơ lớn, cô muốn trở thành một Disney Imagineer. Điểm của cô, các kỳ thi và hồ sơ của cô tốt, nhưng không đủ tốt, vì ETC rất kén chọn người. Trước khi xếp cô vào danh sách “từ chối”, tôi quyết định lật lại hồ sơ của cô một lần nữa, từng trang một. Khi làm việc đó, tôi thấy một lá thư cám ơn viết bằng tay lẫn giữa các trang khác.

Lá thư không phải gửi cho tôi, cũng không phải cho đồng giám đốc của tôi, Don Marinelli, hay cho một giáo viên nào khác của trường. Nó là bức thư gửi cho một nhân viên đã giúp cô một số thu xếp khi tới thăm trường. Nhân viên này không có thế lực gì trong việc tuyển sinh, nên lá thư không mang ý nghĩa xu nịnh nào. Đó chỉ là mấy lời cám ơn tới một người không quen biết, và người đó đã tình cờ nhét nó vào hồ sơ xin học của cô. Mấy tuần sau, tôi nhìn thấy nó.

Bất ngờ gặp lá thư cô cám ơn một người chỉ bởi thấy đó là việc tốt nên làm, tôi đã suy nghĩ. Cô viết lá thư bằng tay. Tôi thích điều đó. “Nó nói cho tôi nhiều hơn mọi thứ khác trong hồ sơ của cô,” tôi nói với Don. Tôi đọc lại hồ sơ của cô. Tôi nghĩ về cô. Được ấn tượng bởi lá thư, tôi quyết định cô xứng đáng để có một may mắn, và Don đồng ý.

Cô đã đến với ETC, hoàn tất luận án cao học, và bây giờ là một Disney Imagineer.

Tôi đã kể với cô câu chuyện này, và bây giờ cô kể nó cho những người khác.

Mặc tất cả những gì đang xảy ra trong cuộc sống và với tình trạng bệnh tình của tôi, tôi vẫn cố gắng viết những lá thư cám ơn bằng tay. Đó là việc làm thật đẹp đẽ. Và bạn không thể biết phép thần diệu gì có thể xảy ra sau khi nó tới hộp thư của một người nào đó.

42

Trung thành là một con đường hai chiều

Khi Dennis Cosgrove là sinh viên của tôi ở Đại học Virginia những năm đầu 1990, tôi thấy anh ta rất ấn tượng. Anh làm những việc rất kỳ diệu tại phòng thí nghiệm máy tính của tôi. Anh là một trợ giảng trong lớp hệ điều hành. Anh lấy cả lớp cao học và là một sinh viên A[8].

Trong hầu hết các lớp, anh là một sinh viên A. Trong lớp tích phân, anh là một sinh viên F. Không phải anh không có năng lực. Anh chỉ quá tập trung vào các môn máy tính, làm trợ giảng, và trợ lý nghiên cứu cho phòng thí nghiệm của tôi, anh đã đơn giản không tới dự lớp tích phân.

Vấn đề trở thành nghiêm trọng, bởi không phải lần đầu, trong một học kỳ anh đạt toàn A và một điểm F.

Hai tuần trước lúc học kỳ mới bắt đầu, khi xem xét, một chủ nhiệm khoa đã chú ý tới điểm học của Dennis. Ông biết Dennis thông minh như thế nào; ông đã thấy điểm SAT[9] và điểm AP[10] của anh. Theo quan điểm của ông, điểm F là do thái độ chứ không phải do năng lực. Ông muốn đuổi học Dennis. Nhưng tôi biết Dennis không hề nhận được một lời nhắc nhở nào về việc này. Thực chất, tất cả những điểm A của anh có thể bù lại cho điểm F để anh không bị đuổi. Nhưng chủ nhiệm khoa đã áp dụng một quy tắc khó hiểu để đuổi anh. Tôi quyết định tranh đấu cho sinh viên của tôi. “Hãy xem,” tôi nói với trưởng khoa, “Dennis là một chiếc tên lửa không cánh. Anh ta là một ngôi sao trong phòng thí nghiệm của tôi. Nếu chúng ta đuổi anh bây giờ, chúng ta sẽ đánh mất tòan bộ mục đích của việc chúng ta tồn tại ở đây. Chúng ta ở đây để dạy, để nuôi dưỡng tài năng. Tôi biết Dennis sẽ đạt tới đích rất xa. Chúng ta không thể vứt bỏ anh ta.”

Trưởng khoa không hài lòng với tôi. Theo suy nghĩ của ông, tôi là một giáo sư trẻ xốc nổi.

Vậy tôi phải cương quyết hơn nữa. Tôi hành động một cách chiến lược hơn. Học kỳ mới đã bắt đầu. Nhà trường đã lấy tiền học phí của Dennis. Làm như vậy, theo cách nghĩ của tôi, nhà trường đã báo cho Dennis biết anh được chấp nhận tiếp tục làm sinh viên. Nếu chúng tôi đuổi anh trước khi học kỳ bắt đầu, anh đã có thể xin học ở một trường khác. Bây giờ thì đã quá muộn để làm việc đó.

Tôi hỏi trưởng khoa: “Việc gì sẽ xảy ra nếu anh ta thuê luật sư để cãi về chuyện này? Tôi sẽ đứng về phía anh ta để làm chứng. Ông có muốn một giáo viên của ông làm chứng chống đối lại nhà trường không?”

Ông ta sửng sốt. “Anh là giáo viên ít thâm niên,” ông nói. “Thậm chí anh chưa có hợp đồng vĩnh viễn. Tại sao anh lại chúi đầu vào đây để biến nó thành một cuộc đấu mà anh phải chịu trận?”

“Tôi sẽ nói với ông lý do,” tôi nói. “Tôi muốn bảo đảm cho Dennis bởi tôi tin tưởng ở anh ta.”

Trưởng khoa nhìn tôi thật lâu. “Tôi sẽ ghi nhớ điều này khi xem xét hợp đồng vĩnh viễn của anh,” ông nói. Nói cách khác, nếu Dennis tiếp tục sai phạm, thì óc suy xét của tôi sẽ bị nghi ngờ một cách nghiêm trọng.

“Đây là một thỏa thuận,” tôi nói với trưởng khoa. Và Dennis được ở lại trường.

Anh đã đỗ môn tích phân, làm tất cả chúng tôi tự hào, và sau khi tốt nghiệp, anh là một ngôi sao, được nhận giải thưởng về khoa học máy tính. Từ đó, anh đã trở thành một bộ phận của cuộc đời tôi và của các phòng thí nghiệm của tôi. Anh là một trong những cha đẻ đầu tiên của đề án Alice. Là một người thiết kế, anh đã làm công việc lập trình, đặt nền móng để giúp đưa hệ thống hiện thực ảo đến với những lớp người trẻ tuổi.

Tôi đã tranh đấu cho Dennis khi anh ta hai mươi mốt tuổi. Bây giờ, ở tuổi ba mươi bảy, anh đã bắt đầu tranh đấu cho tôi. Tôi đặt tin tưởng ở anh để đưa Alice vào tương lai với tư cách nhà khoa học nghiên cứu thiết kế và cài đặt di sản nghề nghiệp của tôi.

43

Lời giải tối thứ Sáu

Tôi được hợp đồng vĩnh viễn sớm hơn một năm so với thông lệ. Việc đó có vẻ gây ấn tượng đối với các đồng nghiệp trẻ khác trong trường.

“Ô, cậu được hợp đồng vĩnh viễn sớm,” họ nói với tôi. “Bí mật của cậu là gì đấy?”

Tôi nói, “Khá đơn giản. Hãy gọi điện thoại cho tôi mỗi thứ Sáu ở văn phòng của tôi vào lúc mười giờ tối và tôi sẽ nói cho anh biết.” (Tất nhiên, đó là trước khi tôi có gia đình.)

Rất nhiều người muốn đi một con đường tắt. Tôi thấy con đường tắt tốt nhất là con đường dài, cơ bản nó là mấy chữ: làm việc tích cực.

Theo cách tôi nhìn, nếu bạn làm việc nhiều giờ hơn những người khác, trong những giờ đó, bạn sẽ học được nhiều hơn về nghề của bạn. Điều đó làm bạn hiệu quả hơn, có khả năng hơn, thậm chí sung sướng hơn. Làm việc tích cực cũng giống như lãi suất tích lũy ở ngân hàng. Phần thưởng được tăng nhanh hơn.

Điều này cũng đúng trong cuộc sống bên ngoài công việc của bạn. Suốt cuộc đời trưởng thành, tôi thấy thú vị khi hỏi những cặp vợ chồng đã kết hôn lâu năm xem họ làm thế nào để sống được cùng với nhau. Tất cả họ đều nói cùng một điều: “Chúng tôi đã làm việc tích cực cho điều đó.”

44

Thể hiện lòng biết ơn

Không lâu sau khi được hợp đồng vĩnh viễn ở Đại học Virginia, tôi mời toàn bộ nhóm nghiên cứu mười lăm người của tôi xuống Disney World[11] chơi một tuần như một cách để nói lời cám ơn với họ.

Một giáo sư đồng nghiệp kéo tôi ra bên và nói: “Randy, sao cậu có thể làm điều đó?” Có thể anh ta nghĩ tôi đã đặt ra một tiền lệ mà những người sắp được nhận hợp đồng giáo sư vĩnh viễn sẽ không muốn phải làm theo.

“Tại sao tôi có thể làm điều đó?” Tôi trả lời. “Những người này đã làm việc cật lực để mang lại cho tôi một việc làm suốt đời tốt nhất trên thế giới. Tại sao tôi lại có thể không làm điều đó?”

Mười sáu người chúng tôi xuống Florida trên một chiếc xe van lớn. Chúng tôi đã có những ngày vui chơi, phá phách thoải mái, và tôi cũng đảm bảo để tất cả chúng tôi vẫn học đuợc đôi điều trong lúc giải trí. Dọc đường, chúng tôi đã dừng lại ở nhiều trường đại học và thăm các nhóm nghiên cứu tin học ở đó.

Chuyến đi chơi Disney là sự biết ơn được thực hiện một cách dễ dàng. Đó là một món quà đích xác, và hoàn hảo bởi nó là một trải nghiệm mà tôi có thể chia xẻ với những người tôi quý mến.

Tuy nhiên, không phải ai cũng là người dễ để cám ơn.

Một trong những người tư vấn tuyệt vời nhất của tôi là Andy van Dam, giáo sư tin học của tôi khi tôi học tại Brown. Ông đã cho tôi những lời khuyên bảo rất sáng suốt. Ông đã làm thay đổi cuộc đời của tôi. Tôi không bao giờ có thể trả ơn ông được một cách tương xứng, vậy nên tôi phải trả ơn ông trong tương lai kiếp sau.

Tôi luôn bảo với sinh viên của tôi: “Hãy đi làm cho những người khác những gì ai đó đã làm cho bạn.” Đi Disney World, nói chuyện với các sinh viên của tôi về các ước mơ và các mục tiêu của họ, tôi đã cố gắng để làm chính điều đó một cách tốt nhất như có thể.

45

Gửi đi các thanh kẹo bạc hà mỏng

Một phần trách nhiệm của tôi là làm người phê duyệt tạp chí khoa học. Có nghĩa là tôi phải yêu cầu các giáo sư khác đọc các bài báo khoa học dày đặc và phê duyệt chúng. Công việc này có thể chán ngắt, dễ làm mình buồn ngủ. Vậy nên tôi có một sáng kiến. Tôi gửi một hộp kẹo Girl Scout Thin Mints[12] kèm theo mỗi bài báo cần được phê duyệt. “Cám ơn bạn đã đồng ý làm công việc này,” tôi viết. “Hộp kẹo kèm theo đây là phần thưởng của bạn. Nhưng thật không công bằng để ăn nó trước khi bạn phê duyệt bài báo.”

Lá thư sẽ đem lại một nụ cười trên khuôn mặt của người nhận. Và tôi không còn phải gọi điện nhắc nhở mọi người nữa. Họ có gói kẹo đặt trên bàn. Họ biết công việc họ cần phải làm.

Tất nhiên, thỉnh thoảng tôi vẫn phải gửi một e-mail nhắc nhở. Nhưng khi tôi nhắc mọi người, tất cả những gì cần là một câu: “Bạn đã ăn kẹo Thin Mints chưa?”

Tôi thấy Thin Mints là công cụ liên lạc rất hiệu quả. Chúng cũng là một phần thưởng ngọt ngào cho một công việc được hoàn thành tốt.

46

Tất cả những gì bạn có là những thứ bạn mang theo

Tôi luôn thấy sự cần thiết phải chuẩn bị cho mọi tình huống có thể gặp phải. Khi rời khỏi nhà, tôi cần mang theo thứ gì? Khi giảng bài, tôi cần lường trước những câu hỏi gì? Khi chuẩn bị cho tương lai của gia đình thiếu vắng tôi, những tài liệu gì tôi cần phải có?

Mẹ tôi nhớ lần mang tôi tới cửa hàng tạp phẩm lúc tôi lên bảy. Khi tới quầy trả tiền, bà thấy quên một vài thứ trong danh sách những đồ cần mua. Bà bỏ tôi với xe đồ để chạy đi tìm những thứ bà cần.

“Mẹ sẽ quay lại ngay,” bà nói.

Bà chỉ đi có mấy phút, nhưng trong lúc đó, tôi đã xếp mọi thứ lên băng dây chuyền và tất cả đã được tính tiền xong. Tôi bị bỏ đó, đứng nhìn chằm chằm vào người thu tiền, còn bà cũng chằm chằm nhìn tôi. Người thu tiền quyết định chấm dứt sự yên lặng. “Cậu có tiền để trả tôi không?” bà nói. “Những thứ này cần phải được thanh toán đấy.”

Tôi không biết là bà chỉ đùa. Nên đứng ngây, bị hành xác và xấu hổ.

Khi mẹ tôi quay trở lại, tôi tức giận. “Mẹ để con đứng đây không có tiền. Bà này hỏi tiền con, và con không có gì để trả cả!”

Bây giờ, tôi là một người lớn, bạn sẽ không bao giờ thấy tôi với ít hơn 200 đô la trong ví. Tôi muốn được chuẩn bị trong trường hợp cần tới. Tất nhiên, tôi có thể đánh mất ví hoặc ví có thể bị lấy cắp. Nhưng với một người có đồng lương khả dĩ, 200 đô la là khoản tiền xứng đáng để được mạo hiểm. Ngược lại, không có tiền mặt trong tay lúc bạn cần, là một vấn đề hệ trọng hơn nhiều.

Tôi vẫn luôn ngưỡng mộ những người tự chuẩn bị thật kỹ càng cho họ. Ở trường, tôi có một bạn học tên là Norman Meyrowitz. Một hôm anh phải làm một thuyết trình trên máy chiếu, và giữa lúc anh đang nói, thì bóng đèn của máy chiếu bị cháy. Có tiếng xì xào từ cử tọa. Chắc chúng tôi sẽ phải đợi mươi phút tới khi có người mang đến một chiếc máy chiếu khác.

“Không sao cả,” Norman nói. “Không có gì phải lo lắng.”

Chúng tôi thấy anh bước tới ba lô của anh và rút ra một cái gì đó. Anh đã mang theo một bóng đèn dự trữ cho chiếc máy chiếu. Ai có thể nghĩ tới điều như vậy?

Giáo sư của chúng tôi, Andy van Dam, lúc đó ngồi cạnh tôi. Ông ghé đầu và nói, “Tay này rồi sẽ tiến xa.” Ông nói đúng. Norman sau này đã trở thành một lãnh đạo cấp cao của Macromedia Inc., và tại đó, những đóng góp của anh đã gây ảnh hưởng tới hầu như tất cả những ai dùng internet ngày hôm nay.

Một cách khác để tự chuẩn bị là suy nghĩ theo kiểu tiêu cực.

Vâng, tôi là một kẻ lạc quan. Nhưng khi làm một quyết định, tôi thường nghĩ tới phương án xấu nhất. Tôi gọi nó là “Yếu Tố Bị Sói Ăn Thịt.” Nếu tôi làm một điều gì đó, thì cái khủng khiếp nhất có thể xảy ra là gì? Tôi có thể sẽ bị sói ăn thịt?

Cái có thể giúp bạn trở thành lạc quan, là có sẵn một kế hoạch dự phòng bất trắc khi chuyến xe xuống địa ngục bỗng mất phanh. Riêng tôi không thấy lo lắng, bởi tôi đã có một kế hoạch cho những gì sắp xảy đến.

Tôi thường nói với sinh viên: “Khi đi vào chốn hoang vu, thứ duy nhất các bạn có thể trông cậy được vào, là những gì các bạn mang theo mình.” Và thực chất, sự hoang vu là ở mọi nơi, trừ ngôi nhà và phòng làm việc của bạn. Do vậy hãy mang theo tiền. Mang theo những dụng cụ sửa chữa. Hãy tưởng tượng ra những con sói. Mang theo một bóng đèn dự trữ. Hãy tự chuẩn bị.

47

Một lời xin lỗi tồi còn dở hơn là không xin lỗi

Một lời xin lỗi không thể chỉ là đỗ hay rớt. Tôi luôn nói với sinh viên: Khi nói lời xin lỗi, nếu nó không đạt điểm A, thì chẳng có ý nghĩa gì cả.

Những lời xin lỗi miễn cưỡng hoặc thiếu chân thành thường còn tồi tệ hơn là hoàn toàn không xin lỗi, bởi khi đó người nhận sẽ cảm thấy bị xúc phạm. Nếu bạn đã làm điều sai trái trong ứng xử với người khác, thì nó giống như có sự nhiễm độc trong mối quan hệ của bạn. Một lời xin lỗi tốt sẽ giống như liều thuốc kháng sinh; còn một lời xin lỗi dở sẽ giống như xát muối vào vết thương.

Làm việc trong các nhóm là điều cốt yếu đối với các lớp học của tôi, và sự va chạm giữa các sinh viên là điều không thể tránh khỏi. Một số sinh viên sẽ không phản ứng gì. Một số khác, do tự mãn mà thành coi thường các bạn cùng nhóm. Tới giữa học kỳ, những lời xin lỗi luôn luôn là cần thiết. Nếu sinh viên không làm điều đó, thì mọi thứ sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát. Do vậy tôi thường dành cho các lớp học của tôi một quy trình nhỏ về những lời xin lỗi.

Tôi bắt đầu bằng việc mô tả hai loại xin lỗi dở:

1)      “Tôi xin lỗi vì bạn cảm thấy bị tổn thương do những việc tôi đã làm.” (Đó là một cố gắng để an ủi xúc cảm, nhưng hiển nhiên là bạn không muốn đắp chút thuốc nào lên vết thương.)

2)      “Tôi xin lỗi về những gì tôi đã làm, nhưng bạn cũng phải xin lỗi tôi về những gì bạn đã làm.” (Đó không phải là đưa ra một lời xin lỗi. Đó là yêu cầu một lời xin lỗi.)

Những lời xin lỗi đúng đắn bao gồm ba phần:

1)      Điều tôi làm là sai.

2)      Tôi cảm thấy tồi tệ vì đã làm tổn thương bạn.

3)      Tôi có thể làm tốt hơn như thế nào?

Đúng, một số người có thể lợi dụng bạn khi trả lời câu hỏi thứ ba. Nhưng hầu hết mọi người sẽ trân trọng những cố gắng cầu tiến của bạn. Họ có thể nói với bạn về những cách đơn giản và dễ dàng để làm mọi việc được tốt lên. Và thường, họ cũng sẽ tự cố gắng để góp phần làm cho mọi việc được tốt hơn.

Sinh viên sẽ nói với tôi: “Nếu tôi xin lỗi và người kia không xin lỗi lại thì sao?” Tôi trả lời họ: “Đó là điều bạn không thể kiểm soát được, vậy đừng để nó chi phối bạn.”

Nếu người kia nợ bạn một lời xin lỗi, và từ ngữ của lời xin lỗi của bạn là đúng mực và chân thành, bạn vẫn có thể không nghe thấy gì từ họ trong một thời gian. Thật ra cũng chẳng sao khi người khác không có cùng điểm xúc cảm để xin lỗi vào đúng thời điểm mà bạn thực hiện điều đấy. Vậy hãy kiên nhẫn. Nhiều lần, tôi đã thấy các sinh viên xin lỗi, và nhiều ngày sau đó, những bạn cùng nhóm của họ đến xin lỗi lại. Sự kiên nhẫn của bạn vừa được trân trọng, vừa được đền đáp.

48

Nói sự thật

Nếu tôi chỉ được có ba từ để khuyên, thì chúng sẽ là “nói sự thật.” Nếu tôi được có thêm ba từ nữa, tôi sẽ bổ xung: “trong mọi lúc.” Cha mẹ tôi đã dạy tôi “con chỉ tốt, đúng như lời nói của con,” và không có cách nào tốt hơn để nói lên điều đó.

Trung thực không những chỉ đúng về đạo đức, mà nó còn có hiệu quả. Trong một nền văn hóa mà ai cũng nói sự thực, thì bạn sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian phí phạm giành cho việc kiểm chứng. Khi tôi dạy ở Đại học Virginia, tôi đã ưa thích áp dụng điều lệ về danh dự. Khi một sinh viên bị ốm và cần phải thi lại sau, tôi không cần phải ra một đề mới. Người sinh viên chỉ cần cam kết là chưa trao đổi với bất kỳ ai về bài thi, là tôi để anh ta thi đúng bài thi cũ.

Người ta nói dối vì rất nhiều nguyên nhân, thông thường vì đó là cách để đạt được điều họ mong muốn với ít công sức hơn. Nhưng cũng giống như nhiều chiến lược ngắn hạn, nó không hiệu quả về dài hạn. Sau này, bạn sẽ gặp lại mọi người, và họ nhớ là bạn đã nói dối họ. Và họ sẽ nói với rất nhiều người khác về việc ấy. Đó là điều làm tôi ngạc nhiên về việc nói dối. Hầu hết những người nói dối đều nghĩ họ sẽ thoát được lời nói dối … nhưng thực chất, họ không thoát nổi.

49

Hãy tiếp xúc với hộp bút vẽ [13] của bạn

Những người biết tôi, đôi khi than phiền rằng tôi nhìn mọi việc chỉ thành đen hoặc trắng.

Thậm chí, một đồng nghiệp của tôi còn nói với mọi người: “Hãy tới Randy, nếu bạn muốn lời khuyên đen-và-trắng. Nhưng nếu bạn muốn lời khuyên mầu xám, thì anh ta không phải là người thích hợp.”

OK. Tôi là kẻ cực đoan, nhất là khi còn trẻ. Tôi thường nói hộp bút của tôi chỉ có hai màu: đen và trắng. Tôi đoán đó là lý do tại sao tôi lại yêu thich ngành khoa học máy tính, bởi trong đó hầu hết mọi thứ hoặc là đúng hoặc là sai.

Khi nhiều tuổi hơn, mặc dù đã biết trân trọng việc một hộp bút tốt có thể phải có nhiều hơn hai màu, nhưng tôi vẫn nghĩ, nếu bạn sống cuộc sống của bạn một cách đúng đắn, thì màu đen và màu trắng sẽ được bạn dùng nhiều hơn những màu khác.

Trong mọi trường hợp, bất kể màu sắc, tôi rất yêu thích những cây bút vẽ.

Tại bài giảng cuối cùng của tôi, tôi đã mang theo hàng trăm cây bút vẽ. Tôi muốn mỗi người hãy nhận một chiếc khi họ bước vào giảng đường, nhưng trong sự bối rối, tôi đã quyên không cho người đứng ở cửa để phân phát chúng. Quá dở. Kế hoạch của tôi là như sau: khi nói về những ước mơ tuổi thơ, tôi sẽ yêu cầu mọi người nhắm mắt lại và chà xát cây bút trong những ngón tay của họ – để cảm nhận kết cấu, giấy cuốn và sáp của cây bút. Sau đó tôi sẽ yêu cầu họ đưa những cây bút lên mũi và hít một hơi thật sâu. Ngửi mùi một chiếc bút vẽ sẽ đưa ngay bạn trở về với tuổi thơ, có đúng không?

Một lần, tôi thấy một đồng nghiệp làm một thủ tục tương tự về bút vẽ với một nhóm người, và nó đã gây ngay cảm hứng đối với tôi. Thực chất, từ đó, tôi thường mang một chiếc bút trong túi áo sơ mi. Khi muốn trở về với quá khứ, tôi đưa nó lên mũi và hít một hơi sâu.

Tôi thiên vị những cây bút đen và những cây bút trắng, nhưng đó chỉ là tôi. Bút mầu nào cũng có cùng hiệu lực. Hãy hít ngửi chúng và bạn sẽ thấy.

50

Lọ đựng muối và hạt tiêu 100 ngàn đô la

Khi tôi mười hai và chị tôi mười bốn tuổi, gia đình tôi tới thăm Disney World ở Orlando. Cha mẹ thấy chúng tôi đã đủ lớn để có thể tự đi chơi quanh công viên mà không cần phải có sự giám sát. Thời đó chưa có điện thoại di động, nên bố và mẹ dặn chúng tôi phải cẩn thận, chọn một nơi để chúng tôi gặp lại nhau sau chín mươi phút, rồi để chúng tôi tự đi chơi.

Hãy nghĩ về sự vui sướng đó. Chúng tôi đang ở nơi huyền diệu nhất có thể tưởng tượng được ở trên đời và chúng tôi lại có tự do để tự khám phá. Chúng tôi rất biết ơn cha mẹ đã đưa chúng tôi tới đây, và cũng để chứng tỏ mình đã đủ khôn lớn, chúng tôi quyết định lấy tiền tiêu vặt của mình để mua tặng cha mẹ một món quà cám ơn.

Chúng tôi vào một cửa hàng và tìm thấy món quà hoàn hảo: một bộ đồ đựng muối và hạt tiêu bằng sứ có hai chú gấu vắt vẻo trên cây, mỗi chú cầm một chiếc lọ. Chúng tôi trả tiền mười đô la cho món quà, ra khỏi cửa hàng, và rảo bước dọc Main Street để tìm kiếm điểm chơi kế tiếp.

Tôi cầm món quà, và trong một khoảnh khắc khủng khiếp, nó trượt khỏi tay tôi, rơi xuống đất và vỡ. Chị tôi và tôi, cả hai đều đứng khóc.

Một người lớn tuổi lúc đó chứng kiến những gì vừa xảy ra, bà tới chỗ chúng tôi. “Hãy mang nó lại cửa hàng,” bà nói. “Cô chắc chắn là họ sẽ đưa cho các cháu một bộ mới.”

“Cháu không thể làm như vậy,” tôi nói. “Đó là lỗi của cháu. Cháu đã đánh rơi nó. Vậy thì làm sao cửa hàng lại phải đưa chúng cháu một bộ mới?”

“Cứ thử xem,” bà nói. “Cháu đâu biết được.”

Vậy là chúng tôi quay lại cửa hàng … và chúng tôi đã không nói dối. Chúng tôi giải thích những gì vừa xảy ra. Mấy người nhân viên cửa hàng lắng nghe câu chuyện, mỉm cười với chúng tôi … và bảo chúng tôi có thể có một bộ lọ đựng muối và hạt tiêu mới. Họ còn nói đó là lỗi của họ vì đã không gói món quà đủ cẩn thận! Thông điệp của họ là: “Việc đóng gói của chúng tôi đáng lẽ phải đủ an toàn để bảo vệ món quà khi nó bị rơi do sự quá phấn khích của một cậu bé mười hai tuổi.”

Tôi thật bất ngờ. Không chỉ biết ơn, mà còn không tin nổi. Chị tôi và tôi rời cửa hàng, hoàn toàn choáng váng.

Khi cha mẹ chúng tôi biết chuyện, ông bà đã thật sự thêm phần ngưỡng mộ Disney World. Sự thật là, cái quyết định phục vụ khách hàng với lọ đựng muối và hạt tiêu mười đô la đã giúp Disney thu nhập thêm hơn 100 ngàn đô la.

Hãy để tôi giải thích.

Nhiều năm sau đó, khi làm tư vấn cho Disney Imagineering, thỉnh thoảng có dịp trao đổi với những người lãnh đạo cao cấp của Disney, tôi thường nhắc lại câu chuyện về lọ đựng muối và hạt tiêu.

Tôi đã giải thích về việc những nhân viên ở cửa hàng đồ lưu niệm đã làm cho chị tôi và tôi cảm nhận tốt đẹp về Disney như thế nào, và điều đó đã làm cho sự đánh giá Disney của cha mẹ chúng tôi nâng lên một tầm cao mới.

Cha mẹ tôi đã biến những chuyến đi thăm Disney thành một bộ phận mật thiết trong công việc thiện nguyện của họ. Ông bà đã dùng một chiếc xe buýt hai mươi hai chỗ để thường xuyên chở học sinh các lớp học tiếng Anh[14] từ Maryland tới thăm Disney. Hơn hai mươi năm liền, cha tôi đã mua vé cho hàng chục trẻ em tới thăm Disney World. Tôi đã  tham gia hầu hết các chuyến đi đó.

Tóm lại, từ ngày ấy, gia đình chúng tôi đã chi tiêu hơn 100 ngàn đô la tại Disney World để mua vé vào cửa, thức ăn và quà lưu niệm cho chính chúng tôi và cho những người khác.

Khi kể câu chuyện này cho những người lãnh đạo Disney, tôi luôn kết thúc bằng câu hỏi: “Nếu hôm nay tôi gửi một cậu bé tới một trong những cửa hàng của ông với một bộ lọ đựng muối và hạt tiêu bị vỡ, thì chính sách công ty có cho phép nhân viên của ông đủ tử tế để đưa cho cháu bé một bộ mới?”

Những nhà lãnh đạo tỏ ra lúng túng với câu hỏi này. Họ biết câu trả lời: Có lẽ là không.

Bởi vì không đâu trong hệ thống kế toán của họ có khả năng tính một bộ lọ đựng muối và hạt tiêu mười đô la có thể mang lại nguồn thu 100 ngàn đô la như thế nào. Và do vậy, dễ thấy một cậu bé hôm nay sẽ không có nhiều may mắn, sẽ bị mời ra khỏi cửa hàng với hai bàn tay không.

Thông điệp của tôi là: Có nhiều hơn một cách để đo lợi nhuận và thua lỗ. Ở mọi mức độ, các doanh nghiệp có thể và cần phải có một trái tim.

Mẹ tôi vẫn còn giữ lọ đựng muối và hạt tiêu 100 ngàn đô la này. Cái ngày những nhân viên ở Disney World đổi nó cho tôi là một ngày tuyệt vời đối với chúng tôi … và cũng là một ngày không tồi đối với Disney!

51

Không có việc gì là không xứng với bạn

Đã có ghi nhận khá rõ ràng là có sự gia tăng về đòi hỏi quyền lợi trong lớp trẻ ngày hôm nay. Tôi đã chứng kiến điều này trong các lớp học của tôi.

Nhiều sinh viên cao học năm cuối nghĩ là họ phải được nhận việc làm bởi khả năng sáng tạo xuất sắc của họ.  Quá nhiều người thấy bất hạnh với ý nghĩ họ phải bắt đầu từ bậc thang dưới đáy.

Lời khuyên của tôi luôn luôn là: “Đáng nhẽ bạn phải sung sướng vì bạn được nhận một công việc ở phòng xếp thư. Và khi tới đó, cái bạn cần làm là: hãy trở thành thật giỏi trong công việc sắp xếp các lá thư.

Không ai cần nghe ai đó nói: “Tôi không giỏi việc sắp xếp thư, bởi việc này không xứng với tôi.” Không có công việc nào là không xứng với chúng ta. Và nếu bạn không có thể (hoặc không muốn) sắp xếp thư, thì đâu là bằng chứng rằng bạn có thể làm bất cứ một việc gì?

Sau khi các sinh viên ETC của chúng tôi được các công ty tuyển vào làm nội trú hoặc vào làm công việc đầu tiên, chúng tôi thường yêu cầu các công ty cho chúng tôi phản hồi xem họ làm việc như thế nào. Những người phụ trách họ hầu như không bao giờ có một lời tiêu cực về năng lực hoặc về hiểu biết kỹ thuật của họ. Nhưng khi chúng tôi nhận được một phản hồi tiêu cực, thì hầu như bao giờ cũng là về việc những nhân viên mới thấy họ quá lớn so với công việc của họ. Hoặc là họ đã trông ngóng được lên chức và ngồi phòng làm việc to hơn.

Khi tôi mười lăm tuổi, tôi có lao động ở một trang trại, xới cỏ cho các vườn dâu tây, và hầu hết những người lao động cùng tôi là những người làm công nhật. Một vài giáo viên cũng lao động ở đó để kiếm thêm chút tiền trong dịp nghỉ hè. Tôi nhận xét với bố tôi là công việc này không xứng với các giáo viên. (Tôi đoán là tôi ám chỉ rằng công việc cũng không xứng với tôi.) Cha tôi đã cho tôi một bài học nhớ đời. Ông tin rằng lao động chân tay không là không xứng với bất kỳ ai. Ông bảo ông thiên để tôi làm việc tích cực và trở thành người đào mương giỏi nhất trên thế giới, hơn là làm một kẻ thượng lưu tự-ấn-tượng (self-impressed) quẩn quanh bên một chiếc bàn.

Tôi đã trở lại trang trại dâu tây đó và tôi vẫn không thích công việc. Nhưng tôi đã được nghe những lời của cha tôi. Tôi giám sát thái độ của tôi và đã rẫy cỏ một cách tích cực hơn.

52

Biết bạn đang ở đâu

“OK, chào chàng giáo sư trẻ, anh có thể làm gì cho chúng tôi?”

Đó là câu chào tôi nhận được từ Mk Haley, một Imagineer hai mươi bảy tuổi, người được giao nhiệm vụ giúp đỡ tôi trong thời gian làm sebastical tại Disney.

Tôi đã đến một nơi mà những uy tín học thuật của tôi chẳng mảy may có một ý nghĩa gì. Như một kẻ lữ hành đến miền đất lạ, tôi phải tìm cách nhanh chóng làm quen với đồng tiền địa phương!

Nhiều năm sau, tôi đã nói với sinh viên của tôi về trải nghiệm này, bởi nó là một bài học thật cốt yếu.

Mặc dù đã đạt được ước mơ tuổi thơ là trở thành một Imagineer, tôi đã phải từ đỉnh cao uy tín trong phòng nghiên cứu hàn lâm của mình tụt xuống thành một chú vịt lạ trong một cái ao đầy sóng gió. Tôi phải hình dung cách làm thế nào để có thể thích nghi được với môi trường văn hóa sáng tạo hoặc-thành-hoặc-bại này.

Tôi đã làm việc trong đề án trò chơi hiện thực ảo Aladin[15] rồi được thử trong đề án Epcot[16]. Cùng các Imagineers khác, tôi tham gia phỏng vấn những người đến chơi, xem họ ưa thích trò chơi ra sao. Họ có bị hoa mắt, chóng mặt, hoặc buồn nôn không?

Một số đồng nghiệp mới than phiền là tôi đã áp dụng những khuôn mẫu hàn lâm không phù hợp với đời thực. Họ nói tôi quá tập trung nghiền ngẫm số liệu, quá nhấn mạnh cách tiếp cận sự việc theo khoa học thay vì theo xúc cảm. Đó là sự đối lập giữa định hướng hàn lâm (tôi) với định hướng giải trí (họ). Cuối cùng, sau khi tìm ra phương thức để giảm được hai mươi giây cho mỗi lượt khách bằng thay đổi cách xếp khách lên xe chơi, tôi mới giành được sự chú ý của những Imagineers đã từng nghi ngờ tôi.

Lý do tôi kể câu chuyện này là để nhấn mạnh, bạn cần phải nhạy cảm như thế nào khi chuyển từ văn hóa này sang văn hóa khác – trong trường hợp sinh viên của tôi là từ nhà trường sang công việc làm đầu tiên của họ.

Rốt cuộc, đến cuối kỳ sabastical, các Imagineers đã mời tôi nhận việc làm ở đó. Sau nhiều trăn trở, tôi đã từ chối. Công việc dạy học đã kêu gọi tôi quá mạnh mẽ. Vì tôi biết cách giao lưu trong cả môi trường hàn lâm lẫn công nghiệp giải trí, Disney đã tìm ra một cách để giữ tôi. Tôi đã trở thành cố vấn, mỗi tuần làm một ngày cho Imagineering, công việc mà tôi đã rất hân hạnh làm trong mười năm trời.

Nếu bạn có thể tìm cách bước giữa hai nền văn hóa, đôi khi bạn có thể có được thứ tốt nhất của cả hai thế giới.

53

Không bao giờ bỏ cuộc

Khi ở năm cuối của trường phổ thông, tôi nộp đơn xin vào Đại học Brown và đã không được nhận. Tôi ở trong danh sách đợi. Tôi đã gọi điện cho văn phòng nhập học cho tới khi cuối cùng họ quyết định nhận tôi. Họ thấy tôi quá muốn được vào trường.

Tính bền bỉ, kiên trì đã giúp tôi vượt được bức tường gạch.

Tới lúc tốt nghiệp ở Brown, tôi không hề nghĩ sẽ đi học tiếp cao học. Mọi người trong gia đình tôi đi học, rồi nhận việc làm. Họ không bao giờ tiếp tục theo đuổi con đường giáo dục cao hơn.

Nhưng Andy van Dam, “ông cậu Dutch” và thày tư vấn của tôi ở Brown, đã khuyên tôi “Hãy lấy bằng tiến sĩ. Hãy trở thành giáo sư.”

“Sao tôi lại cần làm việc đó?” tôi hỏi ông.

Và ông nói: “Bởi vì cậu là một người bán hàng rất giỏi, và nếu cậu đi làm cho một công ty, họ sẽ sử dụng cậu làm người bán hàng. Nếu cậu trở thành người bán hàng, cậu cũng có thể bán thứ hàng rất đáng giá, như giáo dục chẳng hạn.”

Tôi mãi mãi biết ơn lời khuyên này.

Andy bảo tôi nộp đơn xin vào đại học Carnegie Mellon, nơi ông đã gửi những sinh viên xuất sắc nhất của ông. “Cậu sẽ được nhận vào đó, không có vấn đề gì cả,” ông nói. Ông đã viết cho tôi một bức thư giới thiệu.

Các giáo sư ở Carnegie Mellon đọc thư giới thiệu nhiệt tình của ông. Họ xem điểm học khá tốt và điểm thi vào cao học không mấy hoàn chỉnh của tôi. Họ xem xét lại hồ sơ xin học của tôi.

Và họ đã từ chối tôi.

Tôi được nhận vào một số chương trình học tiến sĩ ở các trường khác, nhưng Carnegie Mellon thì không muốn nhận tôi. Tôi tới văn phòng của Andy và đặt lá thư từ chối lên bàn. “Tôi muốn ông biết Carnegie Mellon đã đánh giá những giới thiệu của ông cao như thế nào,” tôi nói.

Vài giây sau khi thấy bức thư trên bàn, ông nhấc điện thoại. “Tôi sẽ giải quyết việc này. Tôi sẽ đưa cậu vào,” ông nói.

Nhưng tôi ngăn ông. “Tôi không muốn giải quyết việc theo cách đó,” tôi nói với ông.

Rồi chúng tôi làm một thỏa thuận. Tôi sẽ xem xét các trường đã nhận tôi. Nếu không thấy thỏa mãn với bất cứ trường nào, thì tôi sẽ trở lại ông và chúng tôi sẽ thảo luận.

Các trường khác cuối cùng chẳng mấy thích hợp, và tôi đã nhanh chóng quay lại Andy. Tôi nói với ông là tôi quyết định bỏ trường cao học và nhận một việc làm.

“Không, không, không,” ông nói. “Cậu phải làm bằng tiến sĩ, và cậu phải vào Carnegie Mellon.”

Ông nhấc máy điện thoại và gọi cho Nico Habermann, trưởng khoa khoa học máy tính của Carnegie Mellon, cũng là một người Dutch. Họ nói với nhau về tôi một thoáng bằng tiếng Dutch, sau đó Andy dập máy và nói với tôi: “Đến văn phòng của ông ta lúc 8 giờ sáng ngày mai.”

Nico thuộc trường phái cổ điển, phong cách hàn lâm Âu châu. Rõ ràng, cuộc gặp mặt với tôi chỉ xảy ra như một đặc ân đối với bạn Andy của ông. Ông hỏi tại sao ông cần xét lại đơn xin học của tôi, sau khi khoa đã có kết luận. Một cách thận trọng, tôi nói: “Sau khi được khoa ông xem xét, tôi có được nhận học bổng toàn phần của Phòng Nghiên cứu Hải quân (Office of Naval Research)[17].” Nico nghiêm trang trả lời, “Có nguồn tiền không thuộc vào tiêu chuẩn nhập học của trường; chúng tôi tài trợ sinh viên từ các nguồn kinh phí nghiên cứu.” Và rồi ông nhìn kỹ tôi. Chính xác hơn, ông nhìn xuyên qua tôi.

Có vài khoảnh khắc then chốt trong cuộc đời của mỗi người. Và người ta may mắn nếu có thể nhận thức được khi khoảnh khắc đó xảy ra. Tôi biết lúc đó tôi đang ở trong một khoảnh khắc như vậy. Với tất cả sự hãnh diện vể tuổi trẻ, và đôi chút ngạo mạn, tôi nói “Xin lỗi, tôi không nói tới hệ quả về tiền bạc, mà muốn nói rằng họ chỉ thưởng có mười lăm học bổng như vậy trong toàn quốc. Tôi nghĩ đó là một vinh dự rất thích đáng, và tôi xin lỗi nếu nói ra như vậy là điều quá tự phụ về phần tôi.”

Đó là câu trả lời duy nhất tôi có, nhưng đó là sự thật. Rất từ từ, khuôn mặt đông cứng của Nico ấm lên và chúng tôi chuyện trò thêm ít phút nữa.

Sau khi gặp gỡ thêm với một số giảng viên khác, cuối cùng tôi đã được Carnegie Mellon nhận vào học, và tôi đã có được bằng tiến sĩ. Đó là một bức tường gạch mà tôi đã vượt qua nhờ có sự giúp đỡ to lớn từ một người thày tư vấn và những sự bày tỏ chân thành.

Cho tới khi bước lên bục trình bày bài giảng cuối cùng, tôi chưa bao giờ kể với sinh viên và đồng nghiệp ở Carnegie Mellon rằng tôi đã bị từ chối khi xin vào học ở đây. Tôi đã ngại ngần điều gì? Rằng tất cả mọi người sẽ nghĩ là tôi không đủ thông minh để cùng chung thuyền với họ? Rằng họ sẽ ít tôn trọng tôi hơn?

Thật thú vị, những bí mật bạn quyết định tiết lộ vào cuối cuộc đời của bạn.

Đáng nhẽ tôi phải kể câu chuyện này từ nhiều năm nay, bởi đạo lý là: Nếu bạn thật mong muốn một điều gì, thì đừng bao giờ bỏ cuộc (và khi được chấp nhận thì hãy quảng cáo về nó.)

Những bức tường gạch ở đó là có một nguyên nhân. Và khi bạn đã vượt qua được chúng – ngay cả khi thực chất ai đó đã phải quẳng bạn qua – thì vẫn rất có ích cho mọi người nếu bạn nói với họ, bạn đã làm việc đó như thế nào.

54

Hãy là người cộng đồng (communitarian)

Chúng ta đã nhấn mạnh rất nhiều trên đất nước này về các quyền con người. Đó là điều cần phải thế, xong, sẽ hoàn toàn vô nghĩa khi nói tới các quyền lợi mà không nói tới các trách nhiệm.

Các quyền lợi phải đến từ đâu đó, và chúng tới từ cộng đồng. Ngược lại, tất cả chúng ta có một trách nhiệm đối với cộng đồng. Một số người gọi nó là phong trào “cộng đồng”, nhưng tôi gọi nó là lẽ (phải thông) thường.

Ý tưởng này đã bị đánh mất trong nhiều chúng ta, và trong hai mươi năm làm giáo sư, tôi ngày càng thấy nhiều hơn sinh viên không hề biết tới nó. Khái niệm các quyền lợi tới cùng với các trách nhiệm, theo nghĩa đen, là một điều xa lạ với họ.

Đầu mỗi học kỳ, tôi yêu cầu sinh viên ký một thỏa thuận, phác thảo những trách nhiệm và quyền lợi của họ. Họ cần phải đồng ý làm việc một cách xây dựng trong các nhóm, dự các cuộc họp, giúp đỡ bạn bằng cách cho những phản hồi trung thực. Ngược lại, họ có quyền dự lớp và kết quả của họ được nhận xét và được trưng bày.

Một số sinh viên do dự với thỏa thuận của tôi. Tôi nghĩ đó là bởi vì chúng ta, những người lớn, chưa luôn là những tấm gương tốt làm người cộng đồng. Thí dụ: Tất cả chúng ta đều tin là chúng ta có quyền được một phiên xử hội thẩm[18]. Nhưng nhiều người lại rất vui mừng vì thoát được nghĩa vụ hội thẩm[19].

Vậy nên tôi muốn sinh viên biết, mỗi người phải đóng góp cho lợi ích chung. Ai không làm như vậy thì có thể được mô tả bằng một chữ: ích kỷ.

Cha tôi đã dạy chúng tôi bằng thí dụ của chính ông, nhưng ông cũng tìm những cách thức mới để dạy điều đó cho những người khác. Khi là ủy viên hội đồng bóng chày Little League[20], ông đã làm một điều rất thông minh.

Ông có khó khăn để tìm các trọng tài tình nguyện. Đó là một công việc bạc bẽo, một phần bởi mỗi khi bạn bắt một lỗi, thì mấy đứa trẻ hoặc cha mẹ chúng lại cho là bạn bắt sai. Rồi cũng có lý do sợ hãi: Bạn phải đứng đó trong khi những đứa trẻ, có rất ít hoặc không có kiềm chế, có thể vụt chày và ném bóng dữ tợn vào bạn.

Cha tôi đã có một sáng kiến. Thay vì tìm người lớn làm tình nguyện, ông chọn những cầu thủ từ các đội nhiều tuổi hơn để làm trọng tài cho các trận của các đội ít tuổi hơn. Ông lấy việc làm trọng tài là một vinh dự cho người được chọn.

Nhiều hệ quả đã xảy ra với sáng kiến này.

Những đứa trẻ được làm trọng tài hiểu công việc này khó nhọc ra sao và rồi sẽ không tranh cãi với trọng tài nữa. Chúng cũng cảm thấy thỏa mãn vì đã giúp cho những đứa trẻ của các đội nhỏ tuổi hơn. Trong lúc đó, những đứa trẻ ít tuổi hơn nhìn thấy những tấm gương ở những đứa trẻ nhiều tuổi hơn khi chúng làm việc tình nguyện.

Cha tôi đã tạo nên một tập hợp mới của những người cộng đồng. Ông biết: Khi chúng ta kết nối với những người khác, chúng ta sẽ trở thành những con người tốt hơn.

55

Tất cả những gì bạn cần làm là hỏi

Trong chuyến đi cuối cùng của cha tôi tới Disney World, ông và tôi cùng đợi để đi tàu xe lửa một ray với Dylan, lúc đó lên bốn tuổi. Dylan mong ước được ngồi ở mũi xe cùng với người lái tàu. Cha tôi, người yêu thích các công viên giải trí, cũng nghĩ đó là một mong ước thú vị.

“Nhưng rất chán là họ không để người thường được ngồi ở chỗ đó,” ông nói.

“Hừm,” tôi nói. “Ba ạ, con đã từng làm một Imagineer, nên con biết một mẹo để có thể được ngồi ở phía trước đó. Ba có muốn thấy không?”

Ông bảo chắc chắn rồi.

Vậy là tôi bước lên cười với người trông tàu và nói: “Xin lỗi, ba người chúng tôi có thể ngồi ở toa xe trên được không?”

“Thưa ông, tất nhiên ạ,” anh ta nói. Anh mở cổng và chúng tôi ngồi vào chỗ cạnh người lái tàu. Đó là lần duy nhất trong đời tôi thấy cha tôi thật sự sửng sốt. “Con nói là có một mẹo mà,” tôi nói với ông khi đoàn tàu chuyển bánh chạy vào Vương quốc Thần diệu (Magic Kingdom). “Nhưng con cũng không nói đó là một mẹo khó.”

Đôi khi, tất cả những gì bạn cần làm là hỏi.

Tôi luôn khá thông thạo trong việc yêu cầu những điều cần thiết. Tôi tự hào về việc đã can đảm liên hệ với Fred Brooks Jr., một trong những nhà khoa học máy tính nổi tiếng nhất trên thế giới. Sau khi bắt đầu sự nghiệp ở IBM vào những năm Năm mươi, ông thành lập khoa khoa học máy tính ở Đại học North Carolina. Ông nổi tiếng trong ngành công nghiệp máy tính, khi, bên cạnh những điều vĩ đại khác, đã nói “Thêm nhân công cho một đề án phần mềm bị chậm trễ chỉ làm cho nó chậm trễ thêm.” (Điều này bây giờ đã được biết đến như là “Luật Brooks.”)

Tất cả những gì bạn cần làm là hỏi.

Tôi ở cuối những năm của tuổi hai mươi và chưa hề gặp ông, do vậy tôi viết e-mail cho ông, hỏi: “Nếu tôi lái xe từ Virginia xuống North Carolina, liệu ông có thể dành ba mươi phút của ông để trao đổi với tôi được không?”

Ông đã dành cho tôi chín mươi phút và trở thành người tư vấn suốt đời cho tôi. Nhiều năm sau này, ông mời tôi tới thỉnh giảng ở Đại học North Carolina. Đó là chuyến đi dẫn tới thời khoảng phồn thực nhất trong cuộc đời của tôi – khi tôi gặp Jai.

Đôi khi, tất cả những gì bạn cần làm là hỏi, và nó có thể dẫn tới việc làm cho tất cả các ước mơ của bạn trở thành hiện thực.

Lúc này, khi con đường phía trước của tôi chỉ còn rất ngắn, tôi lại càng thành thạo hơn với việc “hỏi.” Như chúng ta đều biết, thông thường phải mất mấy ngày mới có được kết quả xét nghiệm y tế. Mất thời gian để chờ đợi nhận kết quả là điều tôi không muốn vào lúc này. Vậy nên tôi luôn hỏi: “Nhanh nhất thì bao giờ tôi có thể nhận được kết quả?”

“Oh,” họ thường trả lời. “Chúng tôi có thể có chúng cho ông trong vòng một giờ đồng hồ.”

“Vậy thì OK,” tôi nói … “Tôi rất mừng vì tôi đã hỏi!”

Hỏi những câu hỏi như vậy. Hãy cứ hỏi họ. Thường nhiều hơn là trông đợi, câu trả lời bạn nhận được sẽ là “Vâng, chắc chắn rồi.”

56

Hãy làm một quyết định: con Hổ hay con Lừa

Khi nói với chủ tịch Carnegie Mellon, Jared Cohon, là tôi sẽ thuyết trình một bài giảng cuối cùng, ông bảo, “Nói với mọi người về việc hãy sống cho vui tươi, bởi đó là thứ họ sẽ nhớ về anh.”

Và tôi nói, “Tôi có thể làm điều đó, nhưng nó cũng giống như một con cá nói về sự quan trọng của nước.”

Tôi ám chỉ, tôi không biết làm sao lại không sống cho vui tươi. Tôi đang chết mà tôi vẫn đang sống vui tươi. Và tôi sẽ tiếp tục sống vui tươi từng ngày tôi còn sống. Bởi không có cách nào khác để sống.

Tôi đã nhận thức rõ về điều này từ rất sớm. Theo cách tôi hiểu, có một quyết định mà tất cả chúng ta phải làm, và việc này được thể hiện hoàn hảo trong nhân vật Winnie-the-Pooh[21] của A.A. Milne. Mỗi chúng ta phải quyết định: Tôi là chú Hổ vui tươi hay tôi là chú Lừa buồn bã? Hãy chọn một phe. Khá dễ thấy là tôi ở đâu trong cuộc bàn cãi Hổ/Lừa.

Trong ngày lễ Halloween[22] cuối cùng của tôi, tôi đã rất vui. Jai và tôi mặc đồ hóa trang đóng các siêu nhân trong phim The Incredibles (những kẻ lạ thường), và ba con của chúng tôi cũng mặc đồ hóa trang như vậy. Tôi đã đưa một bức ảnh chụp chúng tôi lên trang web cho mọi người biết chúng tôi là một gia đình “lạ thường” như thế nào. Bọn trẻ trông khá hay, còn tôi thì trông lực lưỡng với cơ bắp hình mẫu giả. Tôi chú thích là hóa trị liệu đã không quá ảnh hưởng tới sức mạnh siêu nhân của tôi, và đã nhận được vô vàn e-mail đùa vui của bạn đọc.

Mới đây tôi đi một kỳ nghỉ ngắn cùng với ba người bạn thân nhất: bạn học từ thời học phổ thông Jack Sheriff, bạn đại học cùng phòng Scott Sherman, và bạn từ Electronic Arts Steve Seabolt. Tất cả chúng tôi đều biết hàm ý của chuyến đi. Đây là những người bạn từ những thời kỳ khác nhau trong cuộc đời tôi, và họ tụ họp cùng nhau để cho tôi một cuối tuần chia tay.

Ba người bạn của tôi không biết nhau lắm, nhưng sự gắn bó được hình thành khá nhanh chóng. Tất cả chúng tôi đều là những người đàn ông trưởng thành, nhưng trong suốt kỳ nghỉ chúng tôi đã sống như những cậu bé mới mười ba tuổi. Và chúng tôi đều là những con Hổ.

Chúng tôi đã thành công trong việc tránh mọi xúc cảm kiểu đối thoại “Ôi, tôi thương cậu” liên quan tới căn bệnh ung thư của tôi. Thay vào đó, chúng tôi chỉ có vui đùa. Chúng tôi cùng nhớ lại những kỷ niệm, chúng tôi cưỡi ngựa quanh vùng và đùa vui về nhau. (Thực ra chủ yếu là họ trêu chọc tôi về tiếng tăm “Thánh Randy của Pittsburg” mà tôi đã có kể từ bài giảng cuối cùng của tôi. Họ biết tôi, và không hề nghĩ như vậy.)

Hóa trị liệu đã không quá ảnh hưởng tới sức mạnh siêu nhân của tôi.

Tôi đã không để cho con Hổ mất đi trong tôi. Tôi không thể để mình trở thành con Lừa. Một người hỏi tôi muốn ghi gì trên bia mộ của tôi. Tôi đã trả lời: “Randy Pausch: Ông Đã Sống Ba Mươi Năm Sau Khi Mắc Bệnh Hiểm Nghèo.”

Tôi hứa với bạn. Tôi có thể đóng gói hàng đống trò vui đùa vào trong ba mươi năm đó. Nhưng nếu không thể được, thì tôi cũng sẽ chỉ đóng gói vào khung thời gian ít ỏi còn lại của tôi toàn những thứ vui tươi.

57

Một cách để hiểu lạc quan

Sau khi biết bị ung thư, một trong những bác sĩ đã cho tôi mấy lời khuyên. “Điều quan trọng,” ông nói, “là cần ứng xử như anh sẽ còn sống thêm được một thời gian nữa.”

Tôi đã đi trước ông rất xa.

“Thưa bác sĩ, tôi vừa mua một chiếc xe mui trần và làm phẫu thuật triệt sản. Ông còn muốn gì hơn từ tôi nữa?”

Tôi không phủ nhận thực trạng của mình, và ý thức rõ ràng về những gì không thể tránh khỏi. Tôi đang sống giống như tôi đang chết. Nhưng đồng thời, tôi cũng đang sống rất nhiều như tôi vẫn còn sống mãi.

Một số phòng khám ung thư hẹn gặp lại bệnh nhân sáu tháng sau. Với bệnh nhân, đó là tín hiệu lạc quan bởi nghĩ các bác sĩ cho rằng họ còn sống lâu. Có những người ốm bệnh giai đoạn cuối, họ nhìn vào giấy hẹn của bác sĩ và tự nói với họ, “Mình sẽ sống tới ngày đó. Và tới lúc đó, mình sẽ nhận được tin vui.”

Herbert Zeh, bác sĩ giải phẫu của tôi ở Pittsburg, nói ông lo lắng về những bệnh nhân lạc quan không thực tế hoặc không được thông tin tốt. Đồng thời, ông thất vọng khi bệnh nhân được bạn bè và người quen nói là họ phải lạc quan, nếu không, các điều trị sẽ không tiến triển. Ông đau đớn khi thấy bệnh nhân trải qua một ngày gian nan mệt mỏi và lại nghĩ rằng, đó là bởi họ chưa lạc quan đủ.

Theo quan điểm cá nhân của tôi, lạc quan là một trạng thái tinh thần, nó có thể giúp bạn làm những việc cụ thể để cải thiện tình trạng của bạn. Thí dụ, nếu bạn lạc quan, bạn có thể dễ dàng chịu đựng sự tàn khốc của hóa trị liệu hơn, hoặc tiếp tục tìm kiếm những trị liệu y tế mới nhất.

Bác sĩ Zeh gọi tôi là chàng quảng cáo cho “sự cân bằng lành mạnh giữa lạc quan và hiện thực.” Ông thấy tôi đối mặt với căn bệnh ung thư như đối mặt với bất kỳ một trải nghiệm sống nào khác.

Tôi ưa thích gấp đôi việc giải phẫu triệt sản của mình, nó vừa là biện pháp kiểm soát sinh đẻ thích hợp, vừa thể hiện thái độ lạc quan về tương lai của tôi. Tôi thích lái chiếc xe mui trần mới. Tôi thích nghĩ tôi có thể tìm được cách để trở thành một-trong-số-một-triệu người đánh bại được căn bệnh ung thư giai đoạn cuối này. Bởi vì, kể cả nếu tôi không thể làm được như vậy, thì đó vẫn là một tâm thức tốt hơn, giúp tôi vượt qua được từng ngày.

58

Đóng góp của những người khác

Kể từ khi bài giảng cuối cùng của tôi được truyền bá trên Internet, tôi đã nhận được trao đổi của rất nhiều người mà tôi từng quen biết – từ những người hàng xóm thủa niên thiếu tới những người quen rất xa xưa. Tôi rất biết ơn những lời nhiệt thành và những suy nghĩ của họ.

Tôi thật vui sướng khi được đọc những cảm nhận từ các cựu sinh viên và đồng nghiệp. Một đồng nghiệp nhắc lại lời tôi đã khuyên khi anh còn chưa được nhận hợp đồng vĩnh viễn. Anh nói tôi đã nhắc nhở anh phải chú ý tới tất cả những ý kiến của các chủ nhiệm khoa. (Anh nhớ tôi bảo anh: “Nếu ông chủ nhiệm bất chợt đề nghị cậu có thể cân nhắc để làm một việc gì đó, thì cậu phải hình dung đó là một sự thúc ép.”) Một cựu sinh viên gửi e-mail kể việc tôi đã động viên anh tạo trang web mới về phát triển cá nhân mang tên “Hãy kết thúc sự non nớt, và sống một cuộc sống phong phú,” để giúp những người đang sống thấp hơn nhiều so với tiềm năng của họ. Nội dung này giống với triết lý của tôi, dù không phải chính xác là từ ngữ của tôi.

Và hương vị cuộc sống cũng thật phong phú, một cô bạn có cảm tình thời học sinh viết thư chúc tôi lành bệnh, nhắc khéo rằng hồi đó tôi đã lơ đãng và là cậu học trò quá mọt sách đối với cô, rồi bảo cuối cùng cô cũng cưới một chàng đốc tờ thật.

Hàng ngàn người không quen biết đã viết thư cho tôi, làm tôi vô cùng phấn chấn với những lời chúc của họ. Nhiều người đã chia sẻ những trải nghiệm và cho những lời khuyên về cách họ và những người thân của họ đã đương đầu với cái chết như thế nào.

Một quả phụ, có chồng bốn mươi tám tuổi vừa chết vì ung thư tụy, nói “diễn văn cuối cùng” của ông là dành cho một cử tọa nhỏ: vợ, các con, cha mẹ và anh chị em của ông. Ông cám ơn về sự giúp đỡ và tình yêu thương của họ, ông nhắc lại những nơi chốn ông đã từng sống và tới thăm cùng họ, và nhắc lại những gì là quan trọng nhất đối với ông trong cuộc đời. Bà quả phụ nói, việc tư vấn đã giúp đỡ bà và gia đình bà rất nhiều sau khi chồng bà mất: “Biết những gì mình đã trải qua, tôi thấy vợ và các con ông sẽ cần được tư vấn, được khóc và được tĩnh tâm để tưởng nhớ.”

Một phụ nữ khác, có chồng chết vì ung thư não khi các con họ mới được ba và tám tuổi, đã nhờ tôi chuyển lời nhắn nhủ tới Jai. “Chị sẽ vượt qua được mọi trở ngại,” bà viết. “Các con của chị sẽ là suối nguồn vô tận để chị được an ủi, yêu thương, và là lý do cao cả nhất để chị thức dậy mỗi buổi sáng và mỉm cười.”

Rồi bà viết tiếp: “Chị hãy nhận sự giúp đỡ khi Randy còn sống, để có thể tận hưởng thời gian cùng anh. Hãy nhận sự giúp đỡ khi anh không còn nữa, để chị có đủ sức cho những gì quan trọng. Hãy liên kết với nhũng người có cùng mất mát như chị. Họ sẽ là nguồn an ủi đối với chị và các con.” Bà đề nghị Jai cam đoan với các con là khi lớn lên, chúng sẽ được có một cuộc sống bình thường. Chúng vẫn sẽ có các lễ tốt nghiệp, các lễ cưới, và con cái của riêng chúng. “Khi bị mất cha sớm, trẻ nhỏ thường nghĩ, chúng cũng sẽ không còn được hưởng những sự kiện của một chu kỳ cuộc sống bình thường.”

Tôi nhận được thư của một người đàn ông tuổi ngoài bốn mươi bị mắc bệnh tim nặng. Ông viết để nói về Krishnamuri, một thủ lĩnh tinh thần ở Ấn độ, đã mất năm 1986.  Krishnamuri có lần được hỏi cái gì là thứ thích hợp nhất để nói với một người bạn sắp từ giã cõi trần. Ông đã trả lời: “Hãy nói với bạn anh rằng một phần của anh cũng sẽ chết và đi theo với bạn anh. Bất kể bạn anh đi đâu, anh cũng sẽ đi theo. Bạn anh không bao giờ đơn độc.” Trong email viết cho tôi, người đàn ông này viết: “Tôi biết, anh không đơn độc.”

Tôi cũng vô cùng xúc động bởi những cảm nhận và những lời chúc từ một vài nhân vật nổi tiếng mà họ viết cho tôi sau khi biết về bài giảng cuối cùng của tôi. Chẳng hạn, Diane Sawyer, người dẫn chương trình thời sự truyền hình, đã phỏng vấn tôi, và khi kết thúc, máy quay tắt, đã chuyện trò và giúp tôi một lời khuyên quý giá. Tôi biết là tôi sẽ để lại cho các con những bức thư và những đoạn video. Nhưng Diane bảo, cái cốt yếu là phải nói với các con theo cách thức rất riêng, đặc trưng cho liên kết giữa tôi với chúng. Và tôi suy nghĩ rất nhiều về điều này. Tôi quyết định sẽ nói với mỗi con những điều như: “Ba yêu cách con lật đầu ra phía sau khi con cười.” Tôi sẽ cho chúng những thứ rất đặc trưng để chúng có thể thấu hiểu.

Và bác sĩ Reiss, người tư vấn của Jai và tôi, đã giúp tôi tìm cách sao cho không bị nản chí với việc chụp quét ung thư thường kỳ, để có thể hoàn toàn chú tâm cho gia đình, với một trái tim cởi mở và một thái độ thật tích cực. Tôi thường vẫn nghi ngờ hiệu quả của công việc tư vấn. Nhưng nay, với lưng dựa vào tường, tôi đã thấy nó vô cùng hữu ích. Tôi muốn có thể đi khắp các bệnh viện ung thư để nhắc điều này với những bệnh nhân chỉ muốn tự mình chống trọi với mọi thứ.

* * *

Rất rất nhiều người đã viết cho tôi về những điều liên quan tới niềm tin. Tôi vô cùng trân trọng những cảm nhận và những lời cầu nguyện của họ.

Tôi được nuôi dạy bởi cha mẹ là những người cho rằng niềm tin là thứ rất cá nhân. Trong bài giảng, tôi đã không đề cập tới tôn giáo của mình, bởi tôi muốn nói về những nguyên lý phổ quát, có thể áp dụng cho mọi đức tin – để chia sẻ những gì tôi thu nhận được qua các mối quan hệ với con người.

Một số mối quan hệ đó, tất nhiên tôi đã có được ở nhà thờ. M. R. Kelsey, một phụ nữ ở nhà thờ của chúng tôi, đã đến và ngồi với tôi trong bệnh viện mỗi ngày trong mười một ngày liền sau khi tôi mổ. Và từ khi tôi bị bệnh, cha cố của tôi đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Chúng tôi cùng bơi ở một bể bơi ở Pittsburgh, và ngày mà tôi được thông báo là căn bệnh của tôi đã ở giai đoạn cuối, chúng tôi cùng có mặt ở bể bơi. Ông ngồi ở thành bể, còn tôi trèo lên cầu nhảy. Tôi nháy mắt với ông, rồi nhảy xuống nước.

Khi lên bên thành bể bơi, ông nói với tôi: “Anh trông thật khỏe mạnh, Randy.” Tôi nói với ông: “Đó chỉ là nghịch nhận. Tôi cảm thấy khỏe mạnh, và trông không đến nỗi nào, nhưng hôm qua chúng tôi vừa được biết là căn bệnh ung thư của tôi đã quay trở lại, và các bác sĩ nói tôi chỉ còn ba tới sáu tháng.”

Từ hôm đó, ông và tôi đã trao đổi với nhau về cách thức để tôi có thể chuẩn bị được tốt nhất cho sự ra đi.

“Anh có bảo hiểm nhân thọ phải không?” Ông hỏi.

“Vâng, có,” tôi trả lời.

“Nhưng anh cũng cần có bảo hiểm xúc cảm,” ông nói. Và rồi ông giải thích rằng chi phí cho bảo hiểm xúc cảm là thời gian chứ không phải tiền bạc.

Ông đề nghị tôi dành thời gian để quay video cùng với các con, để chúng có hình ảnh kỷ niệm xem chúng tôi đã chơi với nhau, cười đùa với nhau như thế nào. Nhiều năm nữa, chúng sẽ vẫn còn thấy được sự ngọt ngào của những âu yếm, những giao tiếp với người cha. Ông cũng cho tôi biết những suy nghĩ của ông về những điều cụ thể tôi có thể cùng làm với Jai nhằm để lại cho cô dấu ấn về tình yêu thương của tôi.

“Nếu anh trả chi phí cho bảo hiểm xúc cảm ngay lúc này, khi mà anh còn cảm thấy khỏe mạnh, thì sẽ không mấy nặng nhọc cho những tháng ngày sắp tới,” ông nói. “Anh sẽ được bình an hơn.”

Bạn bè của tôi. Những người thân yêu của tôi. Cha cố của tôi. Những người hoàn toàn xa lạ. Từng ngày tôi đều nhận được những sự giúp đỡ từ những con người này, họ chúc tôi may mắn và động viên tinh thần cho tôi. Tôi đã thật sự chứng kiến các thí dụ về những gì là tốt đẹp nhất của tình con người, và tôi vô cùng biết ơn những điều đó. Tôi đã không hề cảm thấy mình đơn độc trong hành trình mà tôi đang trải qua.


[1] Neil Armstrong (sinh 5 tháng 8, 1930) là một phi công vũ trụ Mỹ, người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng ngày 20 tháng 7 năm 1969, trong chuyến du hành trên tàu Apollo 11 cùng Buzz Aldrin & Michael Collins. Khi đặt chân xuống Mặt trăng, ông đã nói một câu bất hủ: “Đây là bước chân nhỏ bé của một người, nhưng là bước tiến khổng lồ của nhân loại“.

 

[2] Eagle Scout (Hướng đạo viên Đại bàng) là danh hiệu cao nhất có thể đạt được trong chương trình Nam Hướng Đạo Mỹ (Boy Scouts of America.) Từ khi ban hành vào năm 1911, hơn 1,7 triệu thiếu niên đã đạt được danh hiệu cao quý này.

[3] Thời kỳ suy thoái kinh tế bắt đầu sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall vào 29 tháng 10 năm 1929 (còn được biết đến như Thứ Ba Đen tối). Nó bắt đầu ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng ra toàn Châu Âu và mọi nơi trên thế giới.

[4] Ở Mỹ và Canada, prom, là một dạ hộI khiêu vũ được tổ chức cuốI năm học. Nam học sinh thường mặc com lê đen, thắt cà vạt đen. Nữ học sinh mặc váy dạ hội vớI đóa hoa cài trên ngực do bạn nam tặng. Thông thường, prom bắt đầu bằng việc tớI thăm nhà bạn bè để chụp ảnh chung. Một nhóm bạn thường thuê một chíếc limousine (taxi dài) để đến vũ hội. Ở đó họ ăn tốI, khiêu vũ, bình chọn Vua và Hoàng hậu vũ hộI và trò chuyện.

[5] Siêu nhân. là một nhân vật anh hùng tưởng tượng. Ban đầu, siêu nhân do nhà văn Mỹ Jerry Siegel và nghệ sĩ gốc Canada Joe Shuster viết lên và được nhà xuất bản Mỹ DC Comics phát hành. Ý tưởng đầu tiên, đó là một thanh niên được sinh ra từ một hành tinh bên ngoài Trái đất. Siêu nhân được gởi đến trái đất bởi cha của anh (một nhà khoa học) bằng một tên lửa trước khi hành tinh của họ bị hủy diệt. Đến trái đất, đứa trẻ được làm con của một cặp vợ chồng nông dân ở Kansas, họ đặt tên đứa trẻ là Clark Kent. Khi trưởng thành, Clark đến Metropolis, làm việc tại một toà soạn nổi tiếng. Những cuộc phiêu lưu của siêu nhân đã có chỗ đứng trong thể loại sách hài hước của Mỹ.

[6] Rocky là một bộ phim (1976) do Sylvester Stallone viết và đóng, nói về câu chuyện giấc mơ Mỹ của Rocky Balboa, một người không được học hành nhưng có tấm lòng tốt. Bộ phim làm hết có 1,1 triệu đô la, quay trong có 28 ngày, nhưng lạI kiếm được 117,2 triệu đô la và ba giảI Oscars. Sau đó, năm bộ kết tiếp đã ra đời: Rocky II, III, IV, V, và Rocky Balboa.

[7] George “The Gipper” Gipp (1895 –1920) là cầu thủ bóng bầu dục, chơi cho đội trường Đại học Notre Dame. Ông là một trong những cầu thủ bóng bầu dục xuất sắc và đa dạng nhất. Gipp mất ở tuổi 25 do viêm phổi. Trên giường bệnh, ông đã nói một câu mà  sau này trở thành một sáo ngữ bất hủ “Hãy thắng một trận cho Gipper”. Ông nói với Knute Rockne – người Mỹ gốc Na uy, được coi là vận động viên và huấn luyện viên xuất sắc nhất trong lịch sử bóng bầu dục của Mỹ – “Tôi phải đi đây, Rock. Không sao cả. Tôi không sợ hãi. Thỉnh thoảng, Rock, khi đội của chúng ta vấp váp, khi có điều sai sót xẩy ra và những lầm lỗi tàn phá các chàng trai, thì hãy giục họ ra sân với tất cả những gì họ có để thắng một trận cho Gipper. Tôi không biết lúc đó tôi sẽ ở đâu, Rock. Nhưng tôi sẽ biết về điều đó, và tôi sẽ rất sung sướng.” Rockne đã dùng câu chuyện của Gipp, cùng lời nói của ông trên giường bệnh, để cổ vũ đội bóng của ông giành chiến thắng trong trận đấu quyết liệt với đội quân đội vào năm 1928 trên sân Yankee. Sáo ngữ “Thắng một trận cho Gipper” sau này cũng được dùng như một khẩu hiệu chính trị.

[8] Điểm ở Mỹ thường cho bằng một chữ cái: A (cao nhất, xuất sắc), B (trên trung bình), C (trung bình), D (thường là điểm thấp nhất để đỗ), and F (rớt). Thêm nữa, hầu hết các trường đều tính điểm trung bình (grade point average – GPA) bằng cách gán điểm số cho mỗi chữ cái rồi dùng một công thức để tính ra điểm thể hiện lực học của sinh viên. Các trường Mỹ thường xếp A tương đương điểm of 4.0. Thang điểm thường như sau: A (90-100%, GPA 3.5-4.0), B (80-89%, GPA 2.5-3.49), C (70-79%, GPA 1.5-2.49), D (60-69%, GPA 1.0-1.49), F (0-59%, GPA 0.0). Điểm + và − cũng được dùng. Trong thang 100 điểm, chữ cái chính là điểm quanh đơn vị 5, + là điểm gần đơn vị 9, và – là điểm gần đơn vị 0; như vậy, 80 tớI 83 là B-, 84 tớI 86 là B, và 87 tớI 89 là B+. Trong thang điểm thập phân 4.0, chữ cái là điểm số nguyên, + là điểm X.333, làm tròn thành X.30, trên điểm nguyên, và − là điểm X.666, làm tròn thành X.70, dướI điểm nguyên; như vậy, B = 3.0, B+ = 3.3, and B− = 2.7. Điểm A là đặc biệt. Ở hầu hết trường, điểm 4.0 là cao nhất, A+ vẫn là 4.00. Tuy nhiên một số trường gán điểm 4.33 cho A+.

[9] SAT là một trong những kỳ thi chuẩn hóa cho việc đăng ký vào một số đại học tại Hoa Kỳ. Hiện tại, kỳ thi SAT kéo dài trong vòng 3 giờ 45 phút. Kỳ thi SAT mang tính suy luận, với thang điểm từ 600 đến 2400. Kỳ thi gồm 3 phần chính: Toán, Đọc và Viết.

[10] AP (Advanced Placement) là chương trình các lớp bậc đại học được dạy ở các trường phổ thông tại Mỹ và Canada.

[11] Disney World là khu giảI trí lơn nhất và được nhiều ngườI đến thăm nhất trên thế giớI, bao gồm bốn công viên giảI trí, hai công viên nước và hai mươi ba khách sạn, cùng rất nhiều cửa hàng, nhà ăn, … Disney Wold tọa ở tây nam Orlando, bang Florida, mở cửa lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 10 năm 1971.

[12] Là những gói kẹo thanh sô cô la mỏng có vị bạc hà do Hội Nữ Hướng đạo Mỹ bán (bắt đầu từ năm 1917) để gây quỹ cho các nhóm hướng đạo địa phương.

[13] Crayon: bút thường được làm bằng sáp màu để trẻ em vẽ hoặc tô màu.

[14] ESL (English as a second language) lớp học tiếng Anh dành cho những người nói tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Anh. Những lớp học này rất phổ biến trong các trường học ở Hoa Kỳ, nơi có nhiều người từ các nền văn hóa khác tới định cư.

[15] Aladdin là một trò chơi video dựa trên bộ phim cùng tên do Walt Disney sản xuất năm 1992 theo truyện dân gian Ả rập “Nghìn lẻ một đêm.”

[16] Epcot là công viên giải trí ở Disney World với chủ đề văn hóa quốc tế và sáng tạo công nghệ. Tên Epcot là viết tắt của Experimental Prototype Community of Tomorrow (mẫu thí điểm cộng đồng tương lai), một thành phố viễn tưởng của tương lai do Walt Disney khởi xướng. Theo Walt Disney, EPCOT bao gồm những ý tưởng và công nghệ mới phát sinh từ những trung tâm sáng tạo của công nghiệp Hoa Kỳ. Nó là một công đồng của tương lai, không bao giờ hoàn chỉnh, nhưng luôn tiến hóa.

[17] The Office of Naval Research (ONR), trụ sở ở Arlington, Virginia (Ballston), là phòng thuộc Bộ Hải quân Hoa Kỳ làm việc điều phối, thực hiện và quảng bá các chương trình khoa học và công nghệ của Hải quân Hoa Kỳ thông qua các trường phổ thông, đại học, cơ quan chính phủ, và các tổ chức phi lợi nhuận và vì lợi nhuận.

[18] Một phiên xử hội thẩm (jury trial) là một quy trình pháp luật trong đó một hội thẩm đoàn hoặc đưa ra quyết định hoặc tìm hiểu sự thật cho thẩm phán sử dụng. Nó khác biệt với một phiên xử  tòa, trong đó một thẩm phán hoặc một đoàn thẩm phán làm mọi quyết định. Hiến pháp Hoa Kỳ công nhận quyền được xử hội thẩm là một quyền công dân cơ bản (công dân có thể chọn được xét xử bởi thẩm phán hay bởi hội thẩm đoàn. Xử hội thẩm là trong hệ luật chung thay vì trong hệ luật dân sự.

[19] Nghĩa vụ hội thẩm (Jury duty) là làm một hội thẩm viên trong một quy trình pháp luật. Khi một công dân được yêu cầu làm nghĩa vụ hội thẩm, thì nghĩa vụ này là bắt buộc, công dân phải tham gia hoặc sẽ bị phạt. Khi thực hiện, công dân hoặc được yêu cầu làm hội thẩm viên trong một phiên xử, hoặc được giải tán.

[20] Little League Baseball là tổ chức phi lợi nhuận ở Hoa Kỳ chuyên tổ chức các đội bóng chày ở Mỹ và các nước khác trên thế giới cho trẻ em từ 5 tới 18 tuổi.

[21] Winnie-the-Pooh, thường được gọi tắt là Gấu Pooh, là một chú gấu hư cấu do tác giả người Anh A. A. Milne (1882 – 1956) sáng tạo và xuất hiện lần đầu tiên trong sách Winnie-the-Pooh năm 1926. Truyện có nhân vật Hổ và Lừa với tính cách đối lập nhau. Hổ rất tự tin, lạc quan, luôn nghĩ mình bảnh trai và tài giỏi. Lừa thì bi quan, u sầu và chán nản.

[22] Halloween là ngày lễ được kỷ niệm vào 31 tháng 10, có nguồn gốc từ lễ hội các thánh của Ai-len và Cơ đốc giáo. Các hoạt động ngày lễ Halloween bao gồm trick-or-treating (trẻ em mặc đồ hóa trang đi các nhà xin quà với câu hỏi “trò ranh ma hay thết đãi?” hăm dọa gieo tai họa cho chủ nhà hoặc cơ ngơi của họ nếu không được cho quà,) các cuộc đi dạo ma, các liên hoan trang phục trá hình, thăm nhà ma, khắc đèn lồng, đọc truyện và xem phim kinh dị.

11/03/2009