Ông ngọai của các con

Các con tôi không biết mặt ông ngọai. Tôi cũng không được biết mặt ông. Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội – 2004) trang 1001 có ghi về ông như sau:

https://i2.wp.com/i467.photobucket.com/albums/rr35/duymanvu/ongNgoai_TDBKQS.jpg

Ông ngọai quê vùng đất nghèo Quảng Bình, cùng nhiều người làng vào Nam làm nghề điện, hai mươi bốn tuổi nhập ngũ. Năm 1954, tập kết ra Bắc. Năm 1961 trở về Nam và hy sinh tại chiến trường năm 1969, ở tuổi bốn mươi tám.

Mấy năm trước, bà ngọai về thăm lại quê hương Quảng Bình của ông. Nơi đó bây giờ chỉ còn hai người cháu họ. Được kể đó là hai người duy nhất còn sống sót ở quê. Những năm tháng chiến tranh ác liệt, Quảng Bình là nơi hứng bom nhiều nhất, các nhà đều có thói quen, tối tối chia nhau ra ngủ ở mấy nơi, nếu bị bom thì tất cả không chết cùng một lúc. Hai đứa cháu họ mà bà ngọai gặp lại là hai đứa đi ngủ nhờ hàng xóm trong cái đêm mà bom Mỹ đã cướp đi mạng sống của cả gia đình.

Lần đầu tôi được đọc về ông là trong cuốn hồi ký “Kết thúc cuộc chiến 30 năm” của tướng Trần Văn Trà do tác giả tặng bà ngọai. Trong hồi ký của mình, tướng Trà nhắc tới ông ngoại là một người “chỉ huy bình tĩnh, kiên cường trong mọi tình huống”.

Sau 1975, tại nghĩa trang Liệt Sĩ Thành phố, mộ ông được đặt trang nghiêm ở khu chính, nhưng đó chỉ là ngôi mộ tượng trưng.

Sau nhiều năm tìm kiếm với sự giúp đỡ của tỉnh Tây Ninh và huyện Trảng Bàng, năm 1998, gia đình vui sướng khi nhận tin đã tìm được đúng hài cốt của ông. Ngày 13/9/1998, cả gia đình đi Tây Ninh để làm lễ chuyển hài cốt. Hồ sơ ghi nhận ngày 22/3/1969, trên đường đi công tác, ông cùng 4 đồng đội đã hy sinh ở Trảng Bàng, dân địa phương chôn cất, đánh dấu mộ, sau đó các ngôi mộ được di chuyển mấy lần rồi được đưa về nghĩa trang đồi 82 Tây Ninh. Sáng ngày 14/9/1998, Chính quyền và quân đội Tây Ninh đã thực hiện việc bốc mộ và tỗ chức long trọng lễ tiễn đưa ông. Hài cốt bốc lên chỉ còn những vụn xương nhỏ, một đôi dép cao su và một chiếc dây thắt lưng. Chiến tranh, sự vất vả căng thẳng nơi chiến trường, hay vì những bận rộn khác mà đồng đội đã không chôn cất gìn giữ hài cốt của đồng chí mình được tốt hơn, không tìm được phần mộ của đồng chí mình sớm hơn. Trong buồn thương, ta không khỏi đặt ra biết bao nhiêu điều để tự hỏi.

Cùng ngày hôm đó, hài cốt của ông đuợc chuyển về Nghĩa trang Liệt sĩ. Thành phố và Quân khu cùng gia đình tổ chức lễ cải táng ông ngay tại Nghĩa trang. Người thân, bạn bè và đồng đội đến viếng rất đông. Phát biểu tại buổi lễ, tướng Mai Chí Thọ nhắc tới những kỷ niệm chiến trường, từ những trận đánh tới những buổi chơi tú lơ khơ, nhớ về ông là con người tình cảm nhưng cũng rất trầm tĩnh, dám quyết, đầy năng lực, và luôn được phân công những nhiệm vụ nặng nề ở những địa bàn khó khăn. Tướng Thọ nói, quân khu Sài Gòn Gia Định mà ông làm tư lệnh là địa bàn hóc hiểm nhất, nổi tiếng với cái tên vùng tam giác thép.

Khi hài cốt ông được chuyển ra khu nghĩa trang, trời nổi cơn giông, gió rất mạnh và mưa lớn. Lúc đặt xong hài cốt vào phần mộ thì trời quang mây tạnh. Ông đã linh thiêng trở về xum họp bên gia đình và đồng đội.

https://i2.wp.com/i467.photobucket.com/albums/rr35/duymanvu/OngNgoai_CT02.jpg
Chuyển hài cốt ông ngoại từ Tây Ninh (14/9/1998)

https://i2.wp.com/i467.photobucket.com/albums/rr35/duymanvu/OngNgoai_CT03.jpg
Cải táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố (14/9/1998)

Năm 2004, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân in cuốn “Đòan Phương Đông” ghi lại những cuộc gặp gỡ và những hồi ức, kỷ niệm của các thành viên của Đòan. Qua cuốn sách, tôi được biết thêm về cuộc hành quân lịch sử, dọc Trường Sơn của ông và đồng đội.

Tướng Trần Văn Quang kể: “Trong hai năm 1959-1960, Trung ương tổ chức gần một chục đoàn cán bộ từ miền Bắc hành quân về miền Nam để tăng cường lực lượng cho tiền tuyến ở các chiến trường Khu 5, Tây Nguyên, Khu 6, miền Đông và Tây Nam Bộ. Đoàn Phương Đông là một trong những đoàn đi đầu, có nhiệm vụ tăng cường cho chiến trường Nam Bộ. Đoàn xuất phát từ miền Bắc đầu tháng 5 năm 1961, lấy bí danh là Đoàn Phương Đông – nhân sự kiện Liên Xô phóng thành công con tầu vũ trụ đầu tiên trong lịch sử mang tên Phương Đông do nhà du hành vũ trụ Ga-ga-rin điều khiển. Đoàn gồm trên 600 cán bộ. Ban chỉ huy có các đồng chí Trần Văn Quang, Trần Nam Trung, Trần Đình Xu và Lê Văn Tưởng. Trải qua hơn ngàn cây số vượt núi băng rừng, chiến thắng đói khát bệnh tật và sự ngăn chặn của địch, cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 1961, đoàn về đến miền Đông Nam Bộ, liên lạc được với Trung ương Cục miền Nam và được Trung ương Cục phân phối về các khu 7, 8, 9 và Khu Sài Gòn – Gia Định, tổ chức thành khung cán bộ, thành lập cơ quan quân sự từ Ban Quân sự Miền đến quân khu, tỉnh đội và trung đoàn”.

Tướng Nguyễn Hồng Phúc nhớ lại: “Phương Đông là đoàn tương đối đồng bộ, gồm các binh chủng Thông tin, Đặc công, Pháo binh, Công binh. Là những cán bộ quân đội được vinh dự tham gia vào những đợt đầu về Nam, vui mừng và tự hào đã hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ trong suốt cuộc hành trình với ý chí, quyết tâm cao, bằng chân đồng vai sắt, đói cơm, thiếu nước, bất chấp muỗi mòng bệnh tật, vừa đi vừa mở đường, … và suốt 14 năm chiến tranh tiếp theo (1961-1975), mỗi người dù ở cương vị nào cũng đều làm tròn nhiệm vụ được giao phó … Nhắc lại những điều đã làm được, những kỷ niệm xưa, chúng ta không thể không nhớ đến những đồng chí đã vĩnh viễn ra đi ở nhiều thời điểm khác nhau, trong đó có nhiều tấm gương tiêu biểu như đồng chí Trần Đình Xu (Ba Đình), Hoài Pho, Đỗ Văn Vọng, Nguyễn Ngọc Lộc (Tư Quỳ) … mãi mãi bất tử trong lòng chúng ta”.

Vẫn tướng Trần Văn Quang kể: “Đúng ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên (7/5) đoàn Phương Đông lên đường, sau hai ngày đi ô tô đến đèo Mụ Giạ, đoàn chia thành nhiều bộ phận bắt đầu lội bộ. Khi đi trên đất ta, khi đi trên đất Lào, Căm-pu-chia, với nhiều gian nan, vất vả. Hầu hết trang bị mang theo, mọi người đều vứt bỏ dần, chỉ giữ lại bốn thứ: bao gạo, bi đông nước, bật lửa, vũ khí. Đến vài chiếc cúc áo cũng có người vứt bỏ, nhẹ thêm được 50 gam cũng quý. Khổ nhất vẫn là cái đói. Các trạm giao liên mới triển khai, có trạm chỉ cấp gạo hoặc sắn đủ ăn một hai ngày đường, có trạm lo ăn cho bản thân chưa đủ, lấy gì cấp cho đoàn”.

Về chuẩn bị cho chuyến đi của Đòan, Đại tá Nguyễn Xuân Đào kể: “Cuộc họp lần đầu, anh Lê Duẩn nói tình hình nhiệm vụ miền Nam. Có mặt trong cuộc họp là các anh Trần Đình Xu, Đào Sơn Tây, Hai Tưởng (Lê Chân), Đễ Vọng, Hòai Pho, Tám Xai, Mười Thiện … Nhiều anh ngày nay không còn nữa. Lần hai, cuộc họp của chỉ huy các đòan, anh Trần Đình Xu chỉ trên tấm bản đồ Việt Nam địa điểm xuất phát và nơi phải tới. Trong bụng tôi mừng thầm, mình là lính dù, chắc hơn một tiếng đồng hồ đã ngồi trên bờ suối Mã Đà, uống trà Thái Nguyên rồi. Nam Bộ ơi, thích quá! Nhưng những câu nói tiếp theo của chỉ huy làm mất nguồn hứng thú, nào có đọan phải đi trên đất Lào, ‘bứng’ đồn giặc mở đường, rồi ngoằn ngòeo leo từng ngọn núi dọc Trường Sơn, thời gian dự kiến đi khỏang nửa năm trời mới tới đích. Lạ thay! Cũng không ngờ tám mươi bốn ngày mà chúng tôi đã gặp được Trung ương Cục miền Nam, mặc dù đường khó đi, vai mang nặng, bụng lúc đói, lúc khát, có đọan nhồi nhét măng rừng, rau rừng cho qua ngày. Cuộc họp cuối cùng tòan Đòan tại nhà Câu lạc bộ Quốc phòng vào chiều tối Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt tên cho đòan là ‘Phương Đông’.

Chuẩn bị lên đường, trên qui định phải cất hết quân hàm, quân hiệu, huân chương, tài liệu. các giấy tờ tùy thân, sổ lãnh lương, cả tiền bạc để lại miền Bắc hết. Địa điểm tập kết cuối cùng là làng Ho (Quảng Bình). Tới đây lột luôn bộ đồ quân phục, thay cho bộ đồ khác trong đó có áo bà ba cụt tay, quần xà lỏn, kể cả tên họ cha sinh mẹ đẻ đặt cho cũng bỏ, phải đặt tên mới. Phiền phức nhất là phải ngồi lại cạo sạch các nhãn hiệu in trên máy móc khí tài cái nào có chữ Trung Quốc, Liên Xô, cực nhất là cạo hết chữ in trên hàng ngàn linh kiện điện tử.”

Nhiều đồng đội đã nhớ lại những kỷ niệm có ông ngoại, đọc và tưởng nhớ về ông mà bùi ngùi xúc động.

Đại tá Nguyễn Xuân Đào viết: “Lính láo, thủ trưởng thật thà! Chuyện là đoàn quân tạm nghỉ chân ở một xóm (bản) nhà dân. Anh em thèm thịt, đem đồ ra đổi lấy heo của dân. Heo lớn từng bộ phận ăn không kết, bèn gạ đổi lấy heo con. Mấy bộ phận ôm mấy con kêu eng éc. Anh Trần Đình Xu thủ trưởng thấy lạ ra đứng xem. Toàn heo mới đẻ hơn tháng. Anh Xu gọi chỉ huy các đơn vị có mua heo lên phê phán: các anh bậy quá, dân có được bầy heo con các anh đổi chác hết, quá tàn nhẫn, không khuyến khích dân sản xuất, đem trả lại cho người ta. Các anh chỉ huy đa số nín thinh biết lỗi, bất ngờ anh Phan đội trưởng đội trinh sát lên tiếng: Thưa anh Ba, không phải vậy đâu, anh em đổi lấy toàn heo đực không thôi, vì dân ở đây không biết thiến heo đực, họ cữ kiêng việc thiến heo đực cho là triệt tộc, nên đưa toàn heo đực thôi, heo cái để lại nuôi. Anh Xu nghe nói cả tin, bằng câu nói thật thà: “Vậy hả, thảo nào! Thôi về đi, ăn heo đực, đừng đổi heo cái”. Bọn chúng tôi rút lui êm, không đứa nào dám ngẩng đầu lên”.

Đại tá Năm Phòng kể: “Trong hành quân vượt Trường Sơn, tôi thích đi lên trước với đội trinh sát. Đi xen vào đó thường có mấy đồng chí liên lạc người dân tộc. Tôi hay hỏi chuyện vui và học tiếng địa phương, độ năm bảy câu khá thực dụng về đường đi, xa gần, đồng bào, buôn rẫy, nhà cửa, đời sống, bệnh tật, … và thường không quên hỏi về loại trái cây như chuối, đu đủ và thuốc hút, … Qua từng địa phương, tôi đối chiếu lại thấy cách phát âm có phần hơi khác trong thổ ngữ từng nơi. Tôi vẫn cố học. Đến một bữa ghé vào một trạm vừa bị biệt kích đột kích đốt phá tan hoang. Đoàn đã thấm mệt, định dừng chân. Thủ trưởng Trần Đình Xu (anh Ba Đình) gọi tôi lại để bàn với anh em liên lạc dân tộc dẫn đường nên dời chỗ, tránh chỗ không hên này. Tôi hỏi bạn một số câu. Anh Ba Đình xáp vô và bắt tôi dịch nhiều câu. Bạn ‘trâm’ tiếng dân tộc ít người. Tôi bí, anh Ba Đình cười và sảng tôi một câu vui ‘Năm Phòng ơi, cậu là phiên dịch xếp hạng mấy?’ Tôi cười ‘Anh Ba ơi, dưới cái không hạng lận’. Anh và tôi cùng cười”.

Tướng Phùng Đình Ấm nhớ lại: “Cuối tháng 6 năm 1961, Đoàn Phương Đông đã đến. Đi đầu là khung các cơ quan Bộ Chỉ huy quân sự Miền và các đơn vị trực thuộc, do đồng chí Trần Đình Xu, Tham mưu trưởng đoàn chỉ huy. Tôi cũng nhận được lệnh của trên chỉ thị trực tiếp đưa đoàn này qua đoạn trọng điểm, từ đầu mối Quảng Đức cũ đến Phước Long. Gặp đồng chí Trần Đình Xu, tôi được biết đoàn của đồng chí hành quân theo đường hành lang phía tây. Cùng hành quân qua bốn cung trạm với đồng chí Trần Đình Xu, tôi thấy thương anh quá. Có vài ký ức nhỏ, tuy vụn vặt nhưng là những kỷ niệm khó quên trong lòng tôi mỗi khi nhớ đến anh.

Chả là, dù đã cố gắng hết mình, nhưng đoạn hành lang của tôi phụ trách cũng chỉ đủ sức cung cấp bổ sung cho mỗi người khách trên đường được nửa lon gạo. Đồng chí đề nghị tôi bảo anh em phụ trách trạm cấp cho đồng chí thêm nửa lon. Thấy đồng chí vóc người to lớn, sức ăn khỏe nhưng vắt cơm đeo lưng có tí tẹo. Biết làm như vậy là phá lệ của đơn vị do mình đặt ra, nhưng vì thương đồng chí, tôi lệnh thủ kho cấp thêm đồng chí nửa lon gạo.

Đến bữa trưa đồng chí ăn cơm vắt, còn tôi đem gói bắp hạt hầm ra ăn với muối và tương ớt. Đồng chí mời, tôi nhất định từ chối. Đồng chí bảo: chúng tôi đói nhưng còn có cơm ăn và chỉ trong thời gian hành quân trên đường. Còn các đồng chí ở đây, gian khổ hơn nhiều và thiếu ăn còn dài ngày hơn nữa. Giọng nói của đồng chí run run, cảm động. Tôi mời đồng chí ăn tương ớt. Thứ ớt đỏ, cho vào ít muối đựng trong chiếc lọ thủy tinih, trông đẹp mắt và ăn vừa thơm, vừa cay. Đồng chí ăn một miếng, vừa hít hà vừa khen ngon. Đồng chí nói: ‘Khi về đến đồng bằng, mình cũng bắt chước cậu làm một lọ ớt tương cho thêm thi vị bữa ăn”. Tôi tặng đồng chí lọ tương ớt và nhớ mãi đồng chí, một cán bộ quân sự sắc sảo, giản dị, vị tham mưu đầu tiên của Ban quân sự R. Sau cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968, nghe tin đồng chí Trần Đình Xu hy sinh, lòng tôi tiếc thương anh, mỗi lần nhớ lại những kỷ niệm xưa tôi không ngăn được phút bùi ngùi”.

Gần đây gia đình liên lạc được với ông Tư Nghĩa, ở Tây Ninh, người cần vụ gần gũi và tin cậy nhiều năm của ông ngọai, người chứng kiến những giờ phút cuối cùng trước lúc ông hy sinh. Bà ngọai và gia đình đã hai lần đến thăm ông Nghĩa, nghe kể lại những kỷ niệm với ông ngọai ở chiến trường.

Năm 1985, Thành phố đặt tên đường Trần Đình Xu để vinh danh ông ngoại. Năm 2001, Nhà nước truy tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh.

Ở thế giới bên kia, ông vui vì được đền ơn đáp nghĩa. Ông sẽ vui nếu thấy thế hệ sau biết gìn giữ và phát huy những thành quả mà thế hệ ông đã giành được bằng nhiều xương máu, sẽ vui hơn nhiều so với được nhận tên đường và những tấm huân chương.

Ghi lại những dòng này để các con tôi nhớ và tự hào về ông ngọai của chúng, về truyền thống gia đình.

https://i0.wp.com/i467.photobucket.com/albums/rr35/duymanvu/OngNgoai_MeHa.jpg
Ông ngoại và mẹ Hà

https://i0.wp.com/i467.photobucket.com/albums/rr35/duymanvu/OngNgoai11.jpg
Ông bà ngoại ở chiến khu

https://i2.wp.com/i467.photobucket.com/albums/rr35/duymanvu/OngNgoai02.jpg
Ở chiến khu

https://i1.wp.com/i467.photobucket.com/albums/rr35/duymanvu/OngNgoai10.jpg
Ông bà ngoại chụp ảnh cùng bà Nguyễn Thi Định

https://i1.wp.com/i467.photobucket.com/albums/rr35/duymanvu/OngNgoai16.jpg
Phần mộ của ông ngoại tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố

https://i0.wp.com/i467.photobucket.com/albums/rr35/duymanvu/OngNgoai18.jpg
Bà ngoại, mẹ Hà, cậu Hải và dì Hoa

https://i1.wp.com/i467.photobucket.com/albums/rr35/duymanvu/OngNgoai17.jpg
Đường mang tên ông ngoại ở Quận I

13/8/2009

20 thoughts on “Ông ngọai của các con

  1. “Năm 1985, Thành phố đặt tên đường Trần Đình Xu để vinh danh ông ngoại”
    Cháu hay đến phố này, ko ngờ đấy là ông ngoại của các con chú. Qua bài viết này, cháu mới biết ông ngoại quê ở Quảng Bình. Thế chú ơi, gia đình chú có khi nào về thăm QB chưa ạ?
    Đọc đoạn dưới này mà cháu ko cầm được nước mắt.
    ” Mấy năm trước, bà ngọai về thăm lại quê hương Quảng Bình của ông. Nơi đó bây giờ chỉ còn hai người cháu họ. Được kể đó là hai người duy nhất còn sống sót ở quê. Những năm tháng chiến tranh ác liệt, Quảng Bình là nơi hứng bom nhiều nhất, các nhà đều có thói quen, tối tối chia nhau ra ngủ ở mấy nơi, nếu bị bom thì tất cả không chết cùng một lúc. Hai đứa cháu họ mà bà ngọai gặp lại là hai đứa đi ngủ nhờ hàng xóm trong cái đêm mà bom Mỹ đã cướp đi mạng sống của cả gia đình.”

  2. Má (Bà ngoại) rất cảm động khi đọc bài anh Mẫn viết. Đã bao lần Má và tụi em chắt đọc những dòng viết ngắn ngủi về Ba Xu bởi những đồng đội còn sống của Ba rải rác trong các hồi ký, để rồi luôn cảm thấy khao khát được biết nhiều thêm về Ba. Nay được đọc những thông tin anh công phu chắt lọc tập hợp, Má vui lắm. Má nói một cách đơn giản là anh viết bài này thật là đích đáng, thật là cần thiết.
    Em đã được tham dự lễ cải táng Ba Xu, em cũng đã được cùng Má về thăm quê hương Quảng Bình của Ba và nghe những thảm kịch đau lòng ở đó trong chiến tranh, thế mà em vẫn cảm thấy nghẹn ngào, vẫn bùi ngùi khi đọc những dòng anh viết. Em vẫn luôn tự hào về người cha là tướng anh hùng, bây giờ hình ảnh ấy càng thêm đẹp vì cái tình người và tình quê của Ba.
    Má nói việc anh làm thật đáng khen ngợi.

  3. Pingback: Tin buồn: Mẹ vợ anh Vũ Duy Mẫn « Hiệu Minh Blog

  4. Pingback: Nhớ thương Má « Blog Duy Mẫn

  5. Chào Anh Mẫn.

    Em đọc Blog của anh đã biết thêm chút ít thông tin về Chú Trần Đình Xu. Ba vợ của anh.
    Em là con dâu của Cụ Trần văn Sớ.( Năm nay em cũng 60 tuổi rồi ). Em là người Xóm Nam, Thuận Bài, xã Quảng Thuận, Huyện Quảng Trạch, Quảng Bình. Người cùng xóm với Chú Trần Đình Xu. Ba chồng em sinh năm 1914, cũng sinh sống trong SG khi thanh niên và tham gia cách mạng năm 1936, Ông là người chủ trương thành lập Hội Thuận Bài Tương tế tại SG.( Em kể để anh chị có thể tìm hiểu thông tin về quê hương tại Hội Thuận Bài tương tế.
    Em rất mừng là cũng biết rằng Chú Trần Đình Xu có 4 người con, 2 trai, hai gái.
    Thực ra ở quê biết rất ít thông tin về chú Trần Đình Xu và gia đình.
    Hiện tại ở quê đúng chỉ còn Lợi và Vinh , là con của em gái chú Trần Đình Xu. Nhà O ấy cũng có tới 5 đứa con, nhưng đêm hôm đó em còn nhớ như in, máy bay thả bom xuống đúng hầm cả nhà ngủ trong đó nên bị chết hết. Chỉ còn 3 em Lợi, Vinh, Quang đi ngủ hầm của tập thể thì may mắn sống sót. Sau đó 3 em được Bác ruột là Ông Ba Ngàn nuôi dưỡng. Nay các em đã có gia đình cả rồi. Em cũng đi xa quê từ 1972 ( ra Hà Nội học ) nên rồi em Quang ở đâu em cũng ko được rõ.
    Nghe Ba đẻ em kể năm 1961, Chú Trần Đình Xu hành quân vào Nam khi qua quê có ghé thăm Bà con và em gái được một lúc. Ba em cứ bảo tìm tài liệu về Chú nhưng tìm được rất ít.
    Em mong rằng sau này Chị Hà và các em chị Hà thường xuyên liên lạc với quê hương qua chúng em. Quê em nằm ngay bờ Bắc chân cầu Gianh. Tên Làng Thuận Bài anh nhé.
    Hãy về quê cho biết quê cha đất tổ.
    Quê em cũng nghèo lắm nhưng bà con đùm bọc nhau lắm.
    Ít ra ở quê các Chị các anh còn 2 đứa em con Cô ruột mà.
    Hãy về một lần nha anh chị.
    Làng xóm chắc rất mừng vì được đón con cháu của Chú Trần Đình Xu trở về )
    Em rất mừng vì biết được chút thông tin của gia đình. Em sẽ đưa tin về quê cho Làng để có tư liệu về gia đình của người con ưu tú của Làn Thuận Bài.
    Mong anh chị Thông cảm cho sự đường đột này của em, một người cùng quê.
    Em
    Trần Thị Minh Châu ( Địa chỉ Facebook của em cũng Tran Thi Minh Chau)

    • Chào chị Châu,
      Cám ơn chị đã ghé đọc blog và để lại phản hồi. Rất mừng được biết gia đình chị là người cùng làng với ông ngọai các cháu. Mong có dịp để liên lạc với chị và được gặp cùng những người trong Hội Thuận Bài Tương tế tại SG. Chúng tôi vẫn ước nguyện về thăm quê Quảng Bình và chắc chắn sẽ thực hiện một dịp gần đây.
      Chúc chị cùng gia đình sức khỏe và bình an.
      VD Mẫn

  6. Ah, chị Châu cũng vào đây comment! Chào Chú Mẫn, Cháu cũng là thế hệ hậu sinh con cháu dòng tộc họ Trần ở làng Thuận Bài, năm nay Em 38 tuổi. Em cũng vào học và lập nghiệp được 20 năm rồi. Em cũng tìm đọc tài liệu viết về Cụ Trần Đình Xu nhưng hầu như rất khiêm tốn, qua trang này Cháu cũng có thêm được thông tin về Cụ. Cháu rất tự về Cụ-một người con của làng Thuận Bài. Hy vọng gia đình con cháu của Cụ có điều kiện về thăm lại quê hương mình. Chúc gia đình Chú khỏe!

    • Cám ơn Hà. Mong có dịp được gặp gỡ cùng bà con họ Trần và họ Ma của Thuận Bài. Chúc Hà và gia đình mọi sự tốt lành. VD Mẫn

  7. Pingback: KHUYẾN HỌC | Doibosonggianh's Blog

  8. Tình cờ vào blog của chú Hiệu Minh, dẫn vào blog cùa chú thì mới nhận ra bà con. Ông ngoại cháu ( mất lâu rồi) họ Trần cũng người làng Thuận Bài, cũng vào Nam làm nghề điện và là một trong những người sáng lập hội Thuận Bài tương tế trong Saigon. Cháu còn nhớ mỗi sáng chủ nhật ông ngoại vẫn thường xách gậy batong đi bộ đến họp hội Thuận Bài trong xóm Cù Lao ở đường Yên Đổ. Thì ra thời buổi internet này trái đất đã nhỏ hơn rất nhiều

    • Người Thuận Bài ở SG vẫn gắn bó với nhau. Chú cũng được nghe về xóm Cù Lao ở đường Yên Đổ.

  9. Hôm nay vào đọc blog của anh làm em rất mừng là đã tìm được hài cốt (tuy còn rất ít) của bác Trần Đình Xu vì em vẫn nhớ ngày xưa Thanh Hà kể ba bị trúng vào ổ phục kích nên ko tìm thấy xác. Bài viết của anh thật xúc động. Qua lời kể của đồng đội bác Xu càng thấy kính trọng, thương yêu và cảm phục bác hơn. Ở tấm hình anh chụp cảnh nghĩa trang liệt sĩ em thấy có mộ bác Trần Quốc Thảo là ba bạn Phương Bình học cùng em hồi cấp hai.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s