Without Reason – Charles Hart (Phần 2)

Charles Hart

Không Duyên Cớ
(Một Gia Đình Phải Đối Mặt Với Hai Thế Hệ Mắc Hội Chứng Tự Kỷ)

Dịch từ nguyên bản tiếng Anh
Without Reason: A Family Copes with Two Generations of Autism
của Nhà Xuất bản Penguin Books USA Inc.

Người dịch: nhiều thành viên của webtretho

*

Chương 2

Sumner chẳng học được gì từ những lần bị đánh đập. Anh chẳng phát triển được kỹ năng tự vệ, cũng chẳng biết tránh để lần sau khỏi bị đánh.


Lần này bố tôi giữ đúng lời hứa. Ông không uống rượu nữa kể từ lần “xuống đáy” ở Alaska. Chẳng bao lâu sau cú điện thoại kia, ông lại gửi tiền về cho mẹ tôi. Sau đó ông tìm được công việc thích hợp hơn – thiết kế đường sắt cho Tuyến đường sắt Alaska.

Một lần nữa, mẹ tôi lại đóng gói những hy vọng của bà cùng đống đồ đạc và chúng tôi chuyển đến Alaska. So với con số 4 thành viên gia đình, số đồ đạc của chúng tôi thật ít ỏi. Có một cái thùng đựng mấy thứ đồ sứ cọc cạch mà mẹ tôi đã đóng gói rất cẩn thận, một cái thùng khác đựng một cái nồi hấp đã cũ, vài hộp các-tông, thêm mấy chiếc va li lỏng chỏng nữa. Ba mươi năm kết hôn của mẹ chỉ tích lại được ngần ấy thứ.

Mấy thứ đồ đạc ấy khiến tôi thấy yên lòng. Chuyển đến một cộng đồng mới, lại mở đồ đạc cũ ra, thế là chúng tôi lại có được cảm giác cuộc sống của mình vẫn có một sự nối tiếp nào đó. Ngoài những đồ dùng giản đơn, chúng tôi cũng có một số “báu vật”: chân nến bằng đồng thau, một bức tranh phong cảnh do bà nội tôi vẽ, một quyển ảnh gia đình và mấy quyển sổ chép thơ của bố tôi có những hình trang trí của anh tôi – hình những đoàn tầu hoả mà anh vẽ hồi còn bé.

Vào năm 1953 dân Alaska đang trong quá trình vận động để thành lập bang. Nhưng Anchorage vẫn chỉ là một cộng đồng mới hình thành với 16 ngàn dân ở một miền đất rộng lớn, dân cư thưa thớt.

Ngày nào cũng có những người mới chuyển đến, hoặc là để kiếm suất đất cấp cho người định cư, hoặc là để kiếm mức lương cao do tình trạng lao động khan hiếm ở đây. Vì tình hình di chuyển ồ ạt này, tìm được nhà ở thật là khó khăn.

Cho dù không mấy tin tưởng, mẹ tôi vẫn phải để bố tôi thuê chỗ ở cho cả nhà và ký hợp đồng thuê trước khi mẹ tôi kịp kiểm tra kỹ. Chúng tôi chuyển đến một ngôi nhà nhỏ ba phòng có điện nhưng không có nước máy. Suốt ba tháng trời, chúng tôi phải bơm nước bằng một máy bơm đặt ở trong bếp và dùng “bồn cầu thùng” – bên dưới lắp một cái thùng rắc đầy thuốc tẩy uế, cứ hai ngày lại phải đem vào rừng đổ. Chúng tôi nhìn nhà xí ngoài nhà của hàng xóm mà ghen tỵ, nhưng họ toàn khóa cửa những cái nhà xí ấy lại để không cho người khác dùng.

Tôi vào học lớp bảy. Đây cũng là ngôi trường thứ bảy tôi theo học. Tôi giúp mẹ tháo dỡ thùng đồ sứ và nghe những lời động viên quen thuộc của mẹ rằng lần chuyển nhà này là “ý Chúa” và “mọi thứ sẽ ngày càng tốt lên”. Tôi không thể không nhận ra rằng giọng mẹ đã kém quả quyết hơn xưa.

Tôi đã quá quen với việc chuyển nhà nên tôi không còn thấy cảm giác có dự định hay mong muốn ở lại cái nơi khó chịu này. Một cách hơi có phần lạ đời, tôi đã hình thành thói quen dựa vào cái cách sống hay thay đổi và lộn xộn của gia đình mình để đối chọi với tâm trạng căng thẳng.

Nếu mẹ tôi không ưa hàng xóm xung quanh, hay tôi bị bạn bè xa lánh, chúng tôi tự cảm thấy an lòng với cái ý nghĩ rằng những vấn đề xã hội của chúng tôi sẽ không kéo dài. Lúc nào chúng tôi cũng có thể thoát ra, chỉ cần theo chân bố tôi đi từ cơn khủng hoảng cá nhân này đến cơn khủng hoảng niềm tin kia, dọc theo bờ biển miền Tây.

Chúng tôi gọi ông là ba, không phải là cha hay bố. Không phải vì chúng tôi không kính trọng ông, mà chỉ đơn giản vì chúng tôi thích ông những lúc ông vui vẻ chơi đùa hơn những lúc ông nghiêm túc hay thu mình xa cách. Nhớ về thời thơ ấu, tôi chỉ muốn nhớ lại những lúc ba tháo răng giả ra, đuổi theo tôi, còn tôi thì giả vờ sợ hãi kêu lên.

Ba tôi rất hài hước và có tài dùng từ kiểu pha trò. Ông nghĩ ra những biệt hiệu gắn với chúng tôi suốt tuổi thơ đến cả lúc trưởng thành: Sọ Dừa là biệt hiệu của Sumner, Tiểu Hồng là cách ba gọi cô con gái cả xinh đẹp của ông, còn Xiên nga (đọc trẹo từ Thiên Nga) là tên thân mật của chị Frances. Tôi chấp nhận cái biệt danh Mắt sắc, không phải vì tôi thích khoe mình có đôi mắt tinh ranh, mà vì ba đã gọi tôi như vậy.

Khi tôi còn bé thì ba đã ở độ tuổi trung niên, vì thế tôi ít có cơ hội hiểu ba hơn so với các chị. Lẽ dĩ nhiên, Sumner ít có cơ hội để hiểu ba nhất trong số chúng tôi. Cả ba tôi và anh tôi đều có một cái gì đó khuyết thiếu, mà phần khuyết thiếu của mỗi người lại trái ngược nhau, làm cho phần khuyết thiếu của người kia trầm trọng hơn, và khiến cho hai người khó có thể, nếu không muốn nói là không thể, tin tưởng và hiểu nhau. Khuyết tật của người con làm người cha nản lòng, còn tật nghiện rượu của người cha khiến ông có những hành vi làm người con sợ hãi và càng không thể hiểu được ông.

Hồi còn hay uống rượu, ba đôi khi dùng thắt lưng đánh Sumner. Lúc ấy tôi còn bé nên không hiểu được những sự bực bội tức giận tích luỹ đến lúc nào thì có thể dẫn đến những cơn thịnh nộ. Hình như có những lúc, các thói quen kỳ lạ và sự bướng bỉnh của Sumner khiến ba tôi tức điên lên. Có đôi lần, tôi lại thấy hình như tại Sumner có những cơn bùng nổ không đúng lúc. Chẳng cần biết là lỗi tại ai, tôi thấy lúc nào hai người đàn ông trưởng thành ấy dùng đến vũ lực cũng đều khủng khiếp cả.

Những lúc ấy, ba tôi thường vừa chửi vừa đánh Sumner, trong khi Sumner thốt ra những âm thanh nghe thật kinh khủng và cũng đánh lại, nhưng là đánh vào tường hoặc đánh vào một người khác. Rất hiếm khi anh tôi định đánh ba. Thỉnh thoảng, Sumner mắc một sai lầm khủng khiếp là đấm vào mẹ tôi khi bà đang tìm cách can ngăn hai người. Điều đó càng làm ba tôi điên giận hơn hết thảy mọi thứ trên đời. Ba tôi yêu mẹ tới mức bản năng bảo vệ bà sẽ át đi mọi suy luận của lý trí và khi ấy, ông sẽ tháo thắt lưng ra đánh Sumner tới lúc anh tôi co rúm lại trong sự hoảng sợ tột cùng.

Tôi đã chứng kiến cảnh này nhiều lần, cũng như các chị của tôi trước cũng đã phải chứng kiến cảnh bi kịch gia đình mà không có cách nào ngăn được. Sự trải nghiệm ấy dạy tôi một bài học không thể nào quên: bạo lực không bao giờ có tác dụng.

Sumner chẳng học được gì từ những lần bị đánh. Anh chẳng phát triển được kỹ năng tự vệ, cũng chẳng biết tránh để lần sau khỏi bị ăn đòn. Trên thực tế, hễ thấy mọi người doạ roi hoặc biết là sắp bị phạt, anh lại lo sợ tới mức run rẩy. Sự run rẩy này không làm dịu tình hình, ngược lại, nó khiến hoặc ba, hoặc anh sau đó sẽ rơi vào trạng thái “bùng nổ” va cái vòng luẩn quẩn lại lặp lại. Đôi khi, chúng tôi phải tìm cách tách Sumner và ba hàng tiếng đồng hồ, kẻo họ không chịu được sự có mặt của nhau rồi lại đánh nhau.

Sau những lần như thế, ba tôi luôn tỏ ra hối hận. Ông tìm cách tránh Sumner và phó mặc việc “quản lý” Sumner cho mẹ tôi. Khi ba xa nhà thì cuộc sống có vẻ như yên bình hơn. Có lẽ ba tôi cũng thấy thế, chính vì vậy, ba tôi hay nhận những công việc xa nhà mỗi đợt vài tuần hay vài tháng liền.

Sau khi bỏ rượu, ba tôi trở thành người nghiện công việc, dành rất ít thời gian cho gia đình. Lúc này, chỉ có Sumner, mẹ tôi và tôi ở nhà với nhau. Chúng tôi đã học cách chỉ còn chờ đợi một thứ từ ba – khoản thu nhập ít ỏi ông kiếm được giữa những đợt thất nghiệp. Tính đến khi bước sang tuổi 60, ông từng bỏ việc hoặc bị đuổi việc khỏi hầu hết các công trình thi công cơ khí ở miền Tây: Cầu Vịnh San Francisco, Đảo Treasure, Đập lớn Coulee, các công trình đường cao tốc và đường sắt. Các công trình xây dựng lớn cũng chính là những dấu mốc trong cuộc sống của gia đình tôi. Vài giờ trước khi sinh tôi, mẹ tôi đã được đưa qua một cây cầu bị lũ cuốn và chính là người cuối cùng vượt qua sông Pitt trước khi “cây cầu mới của Ba” được khai thông.

Tôi chẳng thể nói gì về những cảm nghĩ của Ba đối với Sumner trước khi tôi ra đời. Chắc hẳn trong một quãng thời gian dài, ông đã cảm thấy thất vọng và đau khổ về người con trai khuyết tật của mình. Nhưng ông chẳng bao giờ nói về điều đó.

Khi tôi đủ lớn để biết quan sát mối quan hệ giữa hai người, dường như giữa họ chẳng có gì hơn là sự hổ thẹn. Nỗi hổ thẹn của Sumner là việc anh không có khả năng nói, hiểu những điều người khác mong muốn ở mình và tự chăm sóc bản thân. Ba cũng chịu một nỗi hổ thẹn trên nhiều phương diện: nỗi hổ thẹn có một đứa con trai phải che giấu trước thế giới bên ngoài, hổ thẹn là ông không kiên nhẫn được với đứa con vô tội, không biết tự vệ ấy, và hổ thẹn là ông không chu cấp đầy đủ cho đứa con chẳng bao giờ lớn lên ấy.

Những người trong gia đình chẳng ai hiểu rõ về mối liên hệ giữa tệ nghiện rượu của Ba và tình trạng khuyết tật của Sumner. Những người họ hàng bênh Ba thì cho rằng ông nghiện rượu do quá căng thẳng vì đứa con khuyết tật của mình. Nhưng cũng có những người khác cho rằng, Ba chính là nguyên nhân của các vấn đề của gia đình, do Ba làm xáo trộn cuộc sống của mẹ trong khi mẹ thì ra sức tìm cách tạo dựng một mái ấm ổn định cho đứa con trai khuyết tật và cả những đứa con bình thường nữa.

Chẳng bao giờ Ba nói về cậu con trai cả của mình.

Chúng tôi – Sumner và tôi – hẳn đã làm ông thất vọng ghê gớm. Người anh thì không đạt được mức tự lập như ông mong muốn, còn người em thì nhất quyết không noi gương Ba. Ông nhận thấy tôi gắn bó với mẹ hơn và có những niềm say mê ông không thể chia sẻ. Tôi trở thành cậu con cưng của mẹ, một cậu bé chăm chỉ học hành chứ không phải kiểu người lang bạt như Ba.

Thời gian tôi và Ba bên nhau rất ngắn ngủi. Trên thực tế, chúng tôi ít ở bên nhau đến mức tôi thấy ngạc nhiên mỗi lần Ba bảo tôi đi cùng ba. Tôi chẳng hình dung nổi Ba muốn gì ở mình.

Lần cuối tôi gặp Ba là khi tôi hai mươi tuổi. Khi ấy, tôi về thăm nhà trước khi vào học năm thứ hai ở Harvard. Một năm sau khi xa ba mẹ, tôi thấy cuộc sống của cả nhà xuống dốc đến không tưởng tượng nổi.

Hôm trước khi tôi quay về Seatle, Ba đề nghị tôi “lái xe đưa Ba đi chơi”. Tôi ngỡ ngàng và có phần hơi khó chịu trước đề nghị của ông. Tôi không hình dung nổi vì sao Ba lại muốn nói chuyện riêng với tôi và không hiểu sau bao nhiêu năm cha con chẳng mấy khi gần nhau thì Ba có gì để mà nói. Tuy thế, tôi vẫn ngoan ngoãn cầm lái chiếc xe Buick cũ kỹ của gia đình và lái theo hướng Ba chỉ. Khi chúng tôi vừa rẽ qua lối rẽ đầu, ra khỏi tầm nhìn từ nhà, ông bảo tôi dừng xe.

Ông quay sang nhìn tôi và tôi chờ ông lên tiếng. Với mái tóc muối tiêu và bộ quần áo được mạng vá cẩn thận, trông ông thật tiều tuỵ.

– Charles- ông cất lời- Ba vui vì con rất yêu thương mẹ….

Tôi cảm thấy trong lòng trào dậy cái gì đó như sự phản kháng cùng với chút hồi hộp. Ba sẽ nói tiếp gì đây?

– Ba rất mừng vì con yêu mẹ- ông nói tiếp- Vì con sắp phải chăm sóc cho mẹ và Sumner.
Tôi yên lặng chờ đợi, không biết phải đáp lời thế nào, hy vọng Ba sẽ nói gì đó tiếp theo. – — Vậy thôi hả Ba? – rốt cuộc, tôi hỏi.

– Ừ- ông trả lời- Thế thôi con ạ.

Cuộc nói chuyện của chúng tôi dừng lại ở đó.

Tôi gắng kiềm chế những cảm xúc xáo trộn trong lòng. Ba nom sao mà yếu và dễ tổn thương đến thế. Tôi những mong tìm được một điểm chung nào đó giữa tôi và Ba để từ đó tôi có thể bày tỏ tình cảm yêu thương chân thực với Ba, nhưng lúc ấy tôi thấy trong lòng trống rỗng và không thể nào dang nổi tay ra để ôm Ba. Thay vào đó, tôi cảm thấy bối rối và cả tức giận nữa.

Làm sao người đàn ông già nua, đầy thất bại, chỉ biết thương xót riêng mình này nỡ lòng chuyển giao trách nhiệm của ông cho tôi khi tôi mới 20 thế này? Đó là trò Ba bày đặt ra để mong tôi thương Ba, hay thực sự đó là điềm báo về cái chết sắp tới của Ba? Tôi chẳng tìm được câu trả lời. Càng nghi ngờ, tôi càng thấy rối rắm và chẳng biết phải trả lời thế nào. Chẳng điều gì có thể làm sự giận dữ trong tôi lắng xuống được. Lẽ nào mối nối cuối cùng trong quan hệ cha con tôi là việc Ba trao lại cho tôi gia tài gánh nặng trách nhiệm thế này?

Ngay lúc cảm nhận được sự oán giận của mình trước lời lẽ của Ba, tôi đã cảm thấy xấu hổ. Tất nhiên là tôi yêu mẹ tôi, đáng ra tôi không nên có cảm giác đó trước lời đề nghị của Ba. Thế nhưng…

Hai cha con lái xe về nhà trong im lặng, cuộc nói chuyện vẫn dở dang. Tôi quá hổ thẹn nên không thể bộc lộ những xúc cảm của mình. Có lẽ Ba cũng có tâm trạng giống tôi. Tất cả hy vọng của chúng tôi về mối quan hệ cha con chỉ còn lại một mối kết nối bằng cảm giác có lỗi.

Sau đó, tôi không bao giờ gặp Ba được nữa. Ba tháng sau, tôi được gọi về làm đám tang cho Ba. Kể từ lúc đó, trong tôi không thể nguôi được nỗi ân hận hối tiếc về cơ hội đi cùng Ba, cơ hội có một ngày nào đó bày tỏ tình thương yêu tôi dành cho Ba, người đã sinh thành ra tôi, người đã vật lộn với những vấn đề mà tôi đã không thể hiểu được trước khi tôi thực sự trưởng thành.

Thật kỳ lạ, Sumner bộc lộ phản ứng phức tạp bậc nhất trước cái chết của Ba.

Ba qua đời ở nhà trong lúc đang ngủ. Trong lúc mẹ tôi gọi xe cứu thương và lo việc chuyển xác Ba đi thì Sumner ngồi yên trong phòng của mình. Trong mấy ngày sau đó, mẹ gọi điện cho những người thân, bàn kế hoạch sắp xếp cuộc sống của mẹ và anh với khoản thu nhập giờ đây lại eo hẹp thêm nhiều. Chị Frances mời mẹ và Sumner về ở cùng nhà, trên tầng trên, với gia đình chị.

Mẹ tôi lo Sumner không hiểu được điều gì đang diễn ra và vì sao lại phải chuyển nhà. Cuối cùng bà quyết định “giải thích” cho Sumner. Chẳng đoán được anh hiểu sự việc tới đâu, mẹ cố gắng nói chuyện bằng cách hỏi:

– Ba đâu rồi?

Như mọi lần, Sumner đáp lại bằng cách lặp lại :

– Ba đâu rồi?

Mẹ tôi lấy giọng khẩn thiết và nói:

– Nghe mẹ đây, Sumner. Điều này rất quan trọng! Mẹ muốn con nói mẹ nghe Ba đâu rồi.
Sumner nói với giọng đều đều, vô cảm:

– Ba lên thiên đường rồi.

Câu trả lời của Sumner thật có ý nghĩa với mẹ tôi. Câu nói ấy cho thấy anh “hiểu” là Ba đã mất. Hơn thế nữa, có vẻ như Sumner cũng có tình cảm yêu thương với Ba, đủ để khiến anh tin rằng Ba đã lên thiên đường giống như ông bà nội ngoại mà anh yêu thương, những người đã mất nhiều năm trước đó.

Mấy ngày sau, anh rể Marco của tôi nghe thấy những lời cuối cùng của Sumner về đề tài này. Lúc ấy, Sumner đang ở trong phòng tắm, huýt sáo và tự nói một mình. Marco đứng ở hành lang phía bên ngoài và nghe thấy lời Sumner:

– Tôi sẽ đánh Ba một trận. Ba xuống địa ngục rồi!.

Chúng tôi không ai kể cho mẹ nghe về những lời Sumner nói, những lời cho thấy rằng trong không gian riêng của phòng tắm, anh thể hiện là anh đã hiểu… Anh hiểu, những tháng năm dài của một mối quan hệ đầy bạo lực và gây tổn thương lẫn nhau cuối cùng cũng đã chấm dứt.

*

Chương 3

Liệu anh có thể làm được nhiều hơn mức mọi người nghĩ anh có thể làm? Có phải có một trí thông minh chưa được khai phá đang ẩn náu trong người đàn ông kỳ lạ này không?

Tôi đặc biệt yêu thích một chiếc va li. Từ hồi mới biết đi, tôi đã có một chiếc va li bé xíu của riêng tôi. Tôi say sưa xếp vào đó đồ chơi, sách tranh, quà bánh rồi xách đi chơi ở ngoài mấy cánh đồng gần ngôi nhà của chúng tôi khi đó.

Hồi ấy, mặc dù tôi không nhớ nổi tên của tất cả các thành phố tôi đã từng ở, tôi vẫn nhớ được tên các bang – California, Nevada, Montana, Washington. Mỗi lần kể tên các bang ấy cho người lớn nghe, tôi thấy mình là một đứa bé bốn tuổi thật quan trọng và từng trải.

Chiếc va li của tôi và gia đình của tôi là sự an toàn của tôi. Tôi biết những thứ đó sẽ không bao giờ thay đổi, dù chúng tôi lại sắp chuyển đi đâu hay thuê nhà kiểu gì chăng nữa.

Khi tôi bốn tuổi, Chiến tranh Thế giới thứ 2 chấm dứt, và cuộc sống của chúng tôi lại thay đổi một lần nữa. Chồng chị Vada xuất ngũ, rời khỏi lực lượng hải quân và dự định đưa vợ con về California. Công việc của Ba với giới kỹ sư ở quần đảo Aleut cũng đã xong, Ba lại về nhà.

Ba quyết định đưa cả gia đình về Seattle, ở đó cơ hội việc làm cho Ba tốt hơn. Trong lúc chuẩn bị để rời ngôi nhà nông trang lớn ở Ellensburg, chúng tôi thu dọn mớ đồ đạc lộn xộn, chỉ chọn mang đi những thứ gì cần thiết nhất, xếp vừa trong chiếc xe DeSoto cũ kỹ của chúng tôi và chiếc xe hơi mới hơn một chút của chồng chị Vada. Thứ đầu tiên tôi sắp xếp là chiếc va li của mình.

Sumner và tôi tránh ra một chỗ trong lúc những người lớn hoàn tất nốt việc chọn lựa và đóng gói đồ đạc. Tôi không hề biết là ông anh rể phải bỏ một số món đồ khỏi chiếc xe DeSoto ra để sắp đặt lại cho gọn hơn. Trong lúc lôi đồ ra, anh treo chiếc va li của tôi trên một mấu cành cây gần đó. Anh quên không sắp lại nó vào xe và xe đi mãi rồi tôi mới biết là mất chiếc va li.

Có lẽ với tôi, chiếc va li ấy là hiện thân của tự do. Tôi không còn nhớ được nữa. Có lẽ tôi thích chiếc va li ấy vì nó gợi nhớ lại vô số những lần chuyển nhà của chúng tôi, và chuyển đi cũng đồng nghĩa với trốn chạy, trốn chạy khỏi những người hàng xóm khó chịu hay một lần thất bại nữa của Ba trong công việc.

Tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ nhà ra đi. Tuy thế, sau khi chị gái thứ hai, chị Frances, kết hôn, tôi thường ước ao được sống với chị và chồng chị, người luôn dành nhiều thời gian cho tôi hơn cả bố tôi. Chị kết hôn khi tôi mới tám tuổi, và trong suốt mười năm tiếp theo tôi sống với mẹ, Sumner, và thỉnh thoảng thì có mặt Ba. Còn quá bé để rời khỏi nhà, tôi học cách “trốn chạy” ở trường học hoặc thư viện.

Mặc dù việc chuyển nhà đôi khi có làm cho việc học hành của tôi bị gián đoạn, vẫn có vài thứ bù lại. Từ lối sống tạm thời ấy, tôi nghiệm thấy rằng không vấn đề về xã hội nào sẽ kéo dài quá lâu cả. Chúng tôi có thể tránh xa vĩnh viễn một người hàng xóm có vấn đề hay bất kỳ một điều gợi nhớ khó chịu nào về quá khứ. Chúng tôi có thể chuyển đi để tránh bất kỳ vấn đề nào, ngoại trừ vấn đề của chính bản thân chúng tôi.

Sumner chẳng khá gì hơn cả.

Bất chấp những lời nguyện cầu của mẹ tôi, anh, từ một đứa trẻ khuyết tật và khó hiểu, lớn dần thành một người trưởng thành với những biểu hiện phức tạp và khó lý giải hơn. Anh già đi rất chậm và trông rất đẹp trai với nước da trắng cùng những nét đẹp cổ điển. Thế nhưng anh vẫn có những điều bất thường khá dễ nhận ra.

Lưng anh bị gù nặng do cả đời anh không biết điều chỉnh tư thế. Không lời nhắc nhở đứng ngồi cho thẳng nào có thể giấu được khối lưng gù của anh.

Mặt anh thường nhăn nhó và anh hay có những cử động lạ thường nếu chúng tôi không giữ cho anh luôn bận rộn với một công việc tay chân nào đó, hoặc một đồ vật nào đó để cầm nắm. Tệ hơn nữa, anh không biết thế nào là tự kiềm chế và thường làm chúng tôi xấu hổ bởi những hành vi của anh.

Hồi còn bé, tôi không hiểu mấy nên thường thấy dễ bỏ qua cho anh hơn các chị gái của tôi. Chị Frances thì quá ngại đưa bạn bè cùng trường về nhà chơi.

Có hồi gia đình tôi thuê một ngôi nhà nhỏ với bố cục các phòng khá đơn giản, cửa trước thẳng với lối vào nhà vệ sinh. Nếu cửa phòng vệ sinh mở, mà thường thì Sumner cứ để mở cửa mà ngồi trong, thì đứng từ cổng cách đó 20 feet đã có thể nhìn thấy rõ. Mấy lần chị Frances đưa bạn về nhà, cảnh tượng đầu tiên họ nhìn thấy là Sumner ngồi thủ dâm trên toa lét, không hề đếm xỉa gì đến các “khán giả” bất đắc dĩ của mình.

Trước đó, chị Vada đã rời khỏi nhà bằng cách cưới ngay ông bạn trai nghiêm túc đầu tiên khi vừa mười chín tuổi. Khi Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra, chồng chị vào hải quân. Trong thời kỳ anh trong quân ngũ, chị ở tạm cùng gia đình, sau đó lại chuyển đi, sang California.

Chẳng bao lâu sau, chị ly dị và đối mặt với một loạt các vấn đề vì phải làm mẹ đơn thân nuôi cậu con trai, Douglas, bằng đồng lương thư ký. Đó là một cuộc sống vất vả đối với một phụ nữ trẻ vẫn đang gắng vượt qua cảm giác thiếu hụt của một tuổi thơ đầy xáo trộn.

Tình cảnh của chị Vada đã cho chị Frances một cái cớ hoàn hảo để rời nhà ra đi. Ngay khi vừa sang tuổi mười bảy, chị Frances đã ngỏ ý chuyển sang California giúp chị Vada nuôi dạy con.

Lòng đầy nghi ngại nhưng ba mẹ tôi vẫn cho phép chị Frances rời nhà sang học nốt phổ thông ở Los Angeles. Một năm sau, chị quay về xin phép gia đình đi lấy chồng.

Chị Frances và anh Marco làm lễ cưới đơn giản tại nhà, chỉ có người trong gia đình đến dự. Ai cũng khóc, chỉ trừ chị Vada và cậu bé Douglas bốn tuổi. Hồi ấy tôi tám tuổi, làm chân trao nhẫn cô dâu chú rể và không hiểu tại sao người lớn, kể cả chú rể nữa, lại khóc, nhưng tôi hiểu tại sao tôi khóc. Tôi khóc vì chị Frances của tôi, người bạn thân nhất của tôi, lại rời nhà ra đi vĩnh viễn như chị Vada trước kia. Tôi cũng khóc vì sợ hãi nữa. Tôi chưa bao giờ thấy Ba phiền muộn đến thế. Chị Frances luôn là đứa con Ba yêu nhất, khi cả nhà cãi nhau, chỉ có mình chị bênh Ba, và chị cũng là người luôn an ủi Ba những khi ông tuyệt vọng trong cơn say khướt.

Cuối cùng, cả hai chị gái của tôi đều chuyển ra xa nhà hơn nữa. Chị Vada thì mất hút. Sau sinh nhật tròn năm tuổi của Douglas, chị trả quyền nuôi con cho gia đình chồng cũ và biến mất không liên lạc thư từ gì trong suốt hai năm.

Bất ngờ vào năm 1951, chúng tôi lại nhận được tin từ chị. Chị gửi ảnh cưới từ Cairo về. Chị đã bắt đầu một cuộc sống mới ở Ai Cập.

Chẳng bao lâu sau, Frances và Marco chuyển sang Venezuela. Gia đình tôi thu lại chỉ còn có 4 người: Mẹ, Ba, Sumner và tôi. Chúng tôi trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau.

Tôi những muốn lớn thật nhanh và cũng rời nhà ra đi như các chị. Thỉnh thoảng họ hàng mời tôi đến nhà chơi một thời gian. Chị Frances và anh Marco còn cho tôi tiền vé máy bay sang Venezuela nghỉ hè với anh chị. Lúc nào tôi cũng thấy tự tin hơn khi xa nhà, ở bên những người họ hàng “bình thường” có sự nghiệp thành đạt, có bạn bè, có cuộc sống dường như không mấy phức tạp.

Cuộc sống của tôi ở nhà dường như chỉ quay xung quanh những vấn đề của Sumner. Chúng tôi tránh các hoạt động cộng đồng – chỉ đơn giản là chúng tôi quá hổ thẹn bởi Sumner và tìm cách tránh cả những câu hỏi có thiện chí của những người thấy ngỡ ngàng trước những hành vi của anh.

Tôi ghét phải đi đâu xa hơn khoảng đi dạo quanh nhà. Vì chúng tôi thường thì không có xe hơi, chúng tôi phải đi xe buýt đến nhà thờ, rạp chiếu bóng và cửa hàng.

Khi tôi vào tuổi thiếu niên, Sumner hình thành một thói quen đến là đáng xấu hổ mỗi lần đi xe buýt. Anh luôn chọn ghế ngồi cạnh lối đi, nơi mọi người có thể nhìn thấy anh rất rõ, và xắn quần lên tận đầu gối. Sau đó anh kéo tất chân xuống mắt cá, rồi chậm rãi gãi bắp chân. Anh luôn nhẩn nha làm các động tác ấy.

Tôi hay mẹ gắng thì thầm nhắc nhở thế nào cũng không thể khiến anh bỏ cái thói quen ấy được. Đôi khi chúng tôi phải xuống xe, chờ mất cả nửa tiếng đồng hồ để đi chuyến xe tiếp theo để tránh ánh mắt của những hành khách đầy vẻ băn khoăn không hiểu chúng tôi là ai và tại sao anh tôi lại làm như thế.

Cụm từ “khuyết tật về trí tuệ” không thể hiện được hết tình trạng của Sumner. Có lẽ người ta sẽ dễ dàng chấp nhận sự hạn chế trong khả năng hiểu biết của anh hơn nếu anh không có cái vẻ “tỏ ra điên rồ” và không có những thói quen lạ đời như thế. Ngoài ra, cũng có những dấu hiệu rất đáng ngạc nhiên về năng lực của anh, những dấu hiệu cho thấy dường như anh có thể “bình thường” nếu anh muốn thế.

Khi tôi mười bốn tuổi, tôi quyết định dạy Sumner đọc. Tôi bắt đầu hướng dẫn cho anh và thấy anh có thể chép lại một cách dễ dàng các chữ cái và các hình đơn giản mà tôi bảo anh chép theo. Trí nhớ của anh thật tuyệt vời, nhưng anh gặp khó khăn trong việc gắn kết giữa những chỉ dẫn bằng lời của tôi và những biểu tượng mà tôi bảo anh chép lại. Tuy nhiên, khi anh hiểu được mối liên hệ giữa chữ A tôi nói và hình chữ A, anh có thể chép lại chữ A khi tôi bảo.

Hồi đó, tôi chẳng có kỹ năng sư phạm gì và trở thành một gia sư thiếu kiên nhẫn. Do không hiểu được liệu anh không tiến bộ được là do anh thiếu khả năng hay thiếu quan tâm, tôi cứ kèo nhèo buộc anh nghe lời cho đến lúc anh nổi giận lên. Thấy thế, mẹ tôi lại bảo tôi để cho anh được yên.

Thế là tôi từ bỏ ý định làm thầy giáo dạy anh tôi. Sau đó, hỏi lại tôi mới biết trước đây các chị tôi cũng đã thất bại trong việc cố gắng dạy anh.

Thế nhưng tôi vẫn cứ băn khoăn không hiểu liệu Sumner có làm được nhiều hơn mức mà chúng tôi đánh giá về anh không? Có phải có một trí thông minh chưa được khai phá đang ẩn náu trong người đàn ông kỳ lạ này không? Có hay không một điều bí mật ẩn sau hành vi của anh? Có lẽ một loại bệnh hiếm gặp nào đó liên quan tới tâm thần, chứ không phải khuyết tật, đã gây ra vấn đề của anh. Điều tồi tệ hơn là liệu đó có phải là một thuộc tính có tính chất gia đình ảnh hưởng đến tất cả chúng tôi theo một cách thức tinh vi khó nhận biết nào đó hay không? Quả thực, những thành viên khác trong gia đình đều có trí tuệ hơn mức bình thường, nhưng tôi lo rằng một khuyết tật gì đó về khả năng tư duy có thể ảnh hưởng đến tất cả chúng tôi.

Tôi lo lắng rằng tôi có thể không bình thường. Nỗi lo sợ của tôi về mối liên hệ gia đình theo hướng đó càng làm tăng thêm những băn khoăn của tuổi vị thành niên trong tôi. Tôi không hề biết là những nỗi lo sợ ấy cũng đã từng ám ảnh các chị gái của tôi trước khi họ chia tay thời niên thiếu. Mỗi chúng tôi, ai cũng đã từng tự hỏi: “Có điều gì không ổn với mình thế nhỉ?” và chúng tôi cứ chuyển hết trường này sang trường khác mà ở đâu cũng chỉ là kẻ đứng ngoài lề. Nhà là nơi ẩn náu, nhưng là một nơi ẩn náu có phần kỳ lạ, nơi Sumner cứ lầm bầm vô nghĩa, Ba thì say rượu, còn mẹ thì tìm đến những lời cầu nguyện vô hiệu. Tất cả chúng tôi đều cảm thấy mình là những người ngoài lề xã hội, và sự coi thường của những người xung quanh lại càng làm chúng tôi thêm nghi ngờ chính mình.

Khi tôi đã lớn, chị Frances tâm sự với tôi: “Hồi ấy, lúc nào chị cũng lo lắng khi nghĩ đến lúc em lớn lên. Chị mong muốn đến cháy lòng là em sẽ bình thường vì chị nghĩ rằng trong nhà này chẳng ai bình thường cả. Và nếu như bỗng có cái gì không ổn với em, thì điều ấy có nghĩa là chị cũng có cái gì đó không bình thường”.

Tôi cũng dành cho các chị gái những cảm nghĩ tương tự. Tôi muốn các chị tôi hạnh phúc và thành công trong cuộc đời để có chút dấu hiệu hy vọng rằng tôi rồi cũng sẽ lớn lên và hạnh phúc. Thế nhưng những nỗi nghi ngờ cứ theo đuổi dai dẳng mãi. Có cái gì đó không ổn với chúng tôi? Tại sao các chị gái tôi có cuộc sống kỳ lạ đến thế – di cư tới những miền đất xa lạ cứ như thể là họ không thể tìm thấy hạnh phúc ở chính xã hội của mình?

Khi nhìn nhận một cuộc sống gia đình điển hình phải như thế nào, tôi có cái nhìn của người đứng ngoài cuộc. Tôi tin vào bộ phim truyền hình “Ozzie và Harriet” và những hình mẫu truyền hình tương tự về cuộc sống gia đình “bình thường”, hạnh phúc, mà không nhận ra rằng những người khác cũng phải đối mặt với những nỗi lo lắng, những điều muộn phiền của riêng họ.

Khi ngày tốt nghiệp phổ thông trung học của tôi đến gần, tôi tìm kiếm cơ hội để rời xa nhà. Tôi chẳng có kế hoạch cụ thể gì cho tương lai của mình ngoài việc trốn chạy . Thật may mắn, tôi nhận được học bổng từ Harvard.

Khi ba tôi tự hào viết thư báo tin cho bác tôi, bác Scott đã khóc mà nói: “Cuối cùng thì Edgar cũng đã mở mày mở mặt được rồi”.

Mặc dù mẹ tôi không muốn đứa con út đi xa nhà đến thế, Harvard vẫn là một biểu tượng về uy tín và thành công mà bà không thể không cho tôi tới.

Ba mẹ tôi giúp tôi chuẩn bị cho chuyến đi và đưa tôi ra sân bay. Đó là một cuộc chia tay có phần hơi gượng gạo . Tôi cảm thấy có lỗi và cố gắng che giấu sự phấn khích trước việc được bắt đầu của một cuộc sống mới, trong lúc ấy, ba mẹ lại giấu sự lo lắng về tương lai chỉ có hai người với Sumner.

Ba mẹ nom thật già nua, không có điểm tựa bên cạnh người con trai ba mươi tám tuổi của mình. Chúng tôi cùng chia sẻ nỗi lo không nói thành lời: không có tôi, ba mẹ có thể chăm sóc anh được bao lâu? Trong cuộc sống mới ở trường đại học, tôi thấy có thể quên Sumner thật dễ dàng. Lần đầu tiên trong đời, tôi có cơ hội tự khẳng định mình giữa những người không biết gì về gia đình tôi.

Cuối những năm 1950, Harvard dường như là một thế giới thật hào nhoáng. Aga Khan (Hoàng tử Karim Al Husseini, sinh năm 1936) là một sinh viên năm cuối, ở chung phòng ký túc xá với con trai của Adlai Stevenson (một chính trị gia nổi tiếng của Mỹ). Những cái tên cũng nổi tiếng như thế xuất hiện trong danh sách lớp và trên các hộp thư.

Những cô gái nhà thượng lưu ở New York và Boston tổ chức những buổi lễ ra mắt hoành tráng và luôn có chỗ cho một sinh viên Harvard. Tôi tìm cách có được giấy mời và thường tham dự với tư cách khách mời của khách mời.

Một người bạn của tôi mô tả những bữa tiệc chúng tôi tham dự là “chất đống các vị tai to mặt lớn”. Tôi ngỡ ngàng trước sự thay đổi bất ngờ trong cuộc sống của mình. Chỉ vài tháng ăn thức ăn ký túc xá và tham dự tiệc tùng, trông tôi không còn chút con nít nào nữa. Với một bộ cánh sắm từ tầng hầm của hiệu Filene (một cửa hàng danh tiếng lâu đời ở Boston) và cái danh học trường Harvard, có vẻ như tôi có thể đến bất cứ nơi nào. Tôi tưởng đâu như sự tự do giao lưu trong xã hội mà tôi vừa tìm được sẽ kéo dài mãi mãi.
Điểm số năm thứ nhất của tôi thật kinh khủng. Tôi được đào tạo từ hệ thống giáo dục công lập, giành điểm cao dễ dàng, nay phải chuyển sang một môi trường học tập cạnh tranh khốc liệt. Một phần ba các bạn cùng lớp tôi từng là thủ khoa ở các trường phổ thông trung học. Môi trường ấy quá sức tôi.

Cuối năm thứ nhất, tôi có số điểm trung bình tồi tệ – 1.5 điểm, xơi điểm D cho hai phần ba số các môn học. Tôi mất học bổng và không được lên năm thứ hai.

Trường đưa ra các điều kiện để tôi có thể được vào học lại. Tôi phải nghỉ học một năm và đi tìm việc làm. Nếu tôi ghi tên vào học một trường đại học khác thì sẽ không được trở lại Harvard nữa. Tôi phải chứng tỏ mình sẵn lòng lao động chăm chỉ và chấp nhập sự quản lý của nhà trường. Gia đình tôi muốn tôi quay về Seattle và vào học trường University of Washington, nhưng tôi khăng khăng phản đối. Giờ đây, với tôi, việc quay trở lại Harvard đồng nghĩa với việc khẳng định giá trị bản thân. Tôi phải chứng tỏ với chính mình rằng tôi có thể hoàn thành được những gì mình đã khởi đầu. Tôi phải chứng tỏ với chính mình rằng tôi không phải là người bỏ cuộc, giống Ba, hay tệ hơn, là người thiếu năng lực, giống Sumner.

Hình ảnh hai người đàn ông trong gia đình là động lực dẫn tôi đến thành công. Tôi làm chân rửa bát ở một nhà hàng ở Seattle, kiếm đủ tiền mua vé máy bay lên New York và mua một tấm đệm giá gần hai trăm đô la. Tự thân vận động, tôi bán giầy và ở trọ ở Manhattan. Đó là một cuộc sống tôi đã thấu hiểu – một người ngoài lề xã hội ước ao có được những đặc quyền của người khác.

Harvard nhận tôi vào học lại và điểm số của tôi dần dần khá lên. Ba tháng sau khi tôi trở lại học, Ba tôi mất, để lại cho tôi suy tư sâu xa hơn về trách nhiệm. Tôi nhận thấy rằng rời khỏi nhà không phải là cách giải thoát đơn giản như tôi từng nghĩ.

Trong lòng tôi lúc nào cũng đau đáu nghĩ rằng tôi cần giải tỏa những cảm nghĩ dành cho Sumner và mẹ. Điều làm tôi lo lắng nhất là chăm sóc cho Sumner sau khi mẹ mất. Tôi cố gắng tránh nỗi lo lắng ấy bằng cách cũng hy vọng giống mẹ rằng mẹ sẽ sống lâu hơn anh. Đó là hy vọng mà mẹ tôi đã bày tỏ trong vài lần tôi lấy hết dũng khí để bàn với mẹ về tương lai. Nhưng mẹ tôi không muốn bàn về vấn đề đó, chỉ muốn “sống từng ngày thôi”. Tôi luôn nghe theo và không bàn đến vấn đề đó nữa.

*

Chương 4

Bác sỹ gia đình của chúng tôi đảm bảo rằng không có lý do nào để tin rằng vấn đề của Sumner là có tính di truyền

Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi trở về Seattle và mua căn hộ riêng. Tối chủ nhật nào tôi cũng ăn tối với mẹ và Sumner. Dù vẫn biết rõ là chiều và tối Chủ nhật nào cả nhà cũng gặp nhau, cứ thứ hai hay thứ ba hàng tuần là mẹ lại gọi điện bảo tôi về ăn cơm và hỏi xem tôi thích ăn món gì.

Mẹ tôi là một người phụ nữ thông minh, có tài, nhưng suốt đời chỉ biết chăm sóc cho gia đình. Thật đáng buồn là bữa tối ngày Chủ nhật là cơ hội giao lưu xã hội duy nhất của mẹ trong suốt cả tuần. Tôi đau lòng nhận thấy rằng những bữa tối ấy còn hơn cả niềm vui. Đó là một trách nhiệm. Mẹ trông đợi tôi để có thể trò chuyện, và quan trọng hơn, để có người lắng nghe những suy nghĩ mà mẹ đã dồn tích lại trong suốt cả một tuần ròng chỉ có mẹ và Sumner.

Cuộc sống của mẹ và anh có vẻ bình an. Thậm chí mẹ còn nói rằng cuộc sống góa bụa thế này còn ổn định hơn bốn chục năm lẻ hôn nhân khi trước. Nhưng mẹ cũng thật cô đơn. Lúc nào mẹ cũng có anh Sumner ở bên, và anh cũng giúp mẹ cả việc nhà nữa. Anh xách đồ cho mẹ khi đi chợ, giúp mẹ cắt gọt, dọn dẹp khi mẹ nấu nướng. Nhưng anh không biết đặt câu hỏi hay nói đùa, cũng chẳng biết trả lời, ngoại trừ lặp lại lời mẹ.

Hồi ấy tôi còn trẻ và ít để tâm đến mẹ. Tôi chỉ muốn tin là mẹ hài lòng với lối sống lặng lẽ ấy. Đôi khi tôi cũng cảm nhận được vẻ nuối tiếc của mẹ khi kể về những kỳ nghỉ của họ hàng, tới những nơi mẹ chẳng thể mang Sumner đến, về những dịp giao tế xã hội mà mẹ phải bỏ qua vì không rảnh rỗi như những bà góa khác. Tôi cùng cười với mẹ khi mẹ kể chuyện gặp mấy ông già ở nhà thờ hay chuyện mấy ông bạn trai từ hồi bé muốn nối lại quan hệ. Chúng tôi cười vì chúng tôi hiểu điều bí mật của mình – dù bề ngoài chúng tôi có vẻ hấp dẫn đến đâu, chẳng ai biết về Sumner lại muốn chia sẻ cuộc sống với chúng tôi.

Ngay từ trước khi nghe lời đề nghị cuối cùng của ba – rằng tôi sẽ chăm sóc mẹ và Sumner – tôi đã biết tôi sẽ không bao giờ có thể phá vỡ những mối nối tình yêu và trách nhiệm với mẹ và anh. Chúng tôi vẫn có sự gắn kết thân thiết như ngày nào chỉ có ba mẹ con với nhau hồi tôi còn thơ bé.

Tôi cố gắng làm cuộc sống của mẹ và anh dễ chịu hơn bằng cách sơn lại căn hộ sang gam màu hồng mẹ thích, sắm mới đồ gỗ trong nhà, giúp mẹ bổ sung bộ sưu tập đồng hồ để tiếng tích tắc đồng hồ thay thế cho những cuộc trò chuyện mà mẹ chẳng thể nào có được với Sumner.

Tôi luôn cảm thấy có lỗi mỗi khi rời nhà về căn hộ của mình vào tối Chủ nhật, biết rằng mình sẽ có một cuộc sống trong tuần mà mẹ và anh không thể cùng chung, một cuộc sống mà tôi đã cố tình tách ra để những vấn đề ở nhà không tiếp tục theo tôi khắp mọi nơi.

Hồi còn học ở Harvard, cách nhà 3000 dặm, tôi dễ dàng tách bạch cuộc sống gia đình và cuộc sống riêng hơn. Quay về Seattle, tôi luôn nhớ rằng số phận cả gia đình gắn kết với nhau. Đã hai tư tuổi, tôi cũng muốn có gia đình riêng của mình. Nhưng, cũng như mẹ, tôi cảm thấy anh Sumner là rào cản các quan hệ khác. Nếu tôi đề nghị một phụ nữ cùng chia sẻ gánh nặng mà chính tôi cũng không thể gánh nổi, tôi dễ bị từ chối lắm chứ.

Thật bất ngờ, tôi bỗng nhiên có cơ hội. Năm 1965, tôi học cao học và đảm nhận việc tư vấn trong ký túc xá. Đó là một thiên đường cho người chưa vợ. Ở đó, nữ đông hơn nam, mà toàn là những phụ nữ hấp dẫn, thông minh.

Những giờ giao lưu, trao đổi học hành, và những bữa ăn ở ký túc xá tạo điều kiện cho tôi thường xuyên tiếp xúc với những phụ nữ tuyệt vời. Sau vài tuần, tôi đã hẹn hò riêng một cô bạn. Ngay buổi hẹn đầu, cả hai đã nhận thấy chỉ muốn luôn ở bên nhau và thế là tôi trở thành bạn trai của Sara Richards.

Với những phụ nữ khác, tôi chưa bao giờ có được cảm giác thoải mái, tự nhiên như thế. Ngay từ khi mới quen, chúng tôi đã thấy thân thiết đến kỳ lạ. Sống cùng ký túc xá, hai đứa chúng tôi nhìn thấy nhau cả ba bữa sáng, trưa, chiều. Chúng tôi chạm mặt nhau cả những lúc tôi râu ria lởm chởm chưa cạo còn cô ấy thì tóc bẩn chưa gội. Chúng tôi cãi nhau vì những thứ ngớ ngẩn nhưng lại bênh nhau khi người khác nói chạm gì đến người kia.

Bạn bè đùa rằng trông hai đứa như thể đã cưới nhau rồi, và chúng tôi nghe đùa nhiều quá hoá nhàm, đến nỗi khi tôi cầu hôn Sara, cả hai đều tin chắc câu trả lời sẽ là “có”.

Tôi đưa cô ấy về ăn tối Chủ nhật với cả nhà. Mặc dù tôi đã gắng hết sức giải thích rõ gia cảnh, tôi vẫn cứ lo lắng về phản ứng của cô ấy. Nhưng Sara chỉ đơn giản thấy mẹ tôi là một phụ nữ hấp dẫn, tốt bụng, có một đứa con khuyết tật. Cô ấy đã cho tôi cơ hội lần đầu tiên nhìn nhận gia đình mình như vậy: không phải là những người bản thân họ là vấn đề, mà là những người có một vấn đề cần giải quyết.

Chúng tôi lên kế hoạch cho một đám cưới vào tháng sáu theo đúng truyền thống sau khi học xong năm thứ nhất cao học. Trong mấy tháng liền, tôi gặp gỡ hầu hết mọi người trong gia đình cô ấy và cố gắng để mọi người có thiện cảm với mình.

Lúc nào tôi cũng cảm thấy xấu hổ vì anh Sumner và những hành vi không thể lý giải được của anh. Cũng giống ba mẹ mình, tôi cố gắng giấu anh đi, hay ít ra thì cũng giấu tình trạng khuyết tật của anh. Tôi nghĩ rằng, người ngoài đã tránh anh như thế thì rồi cũng sẽ tránh tôi nếu họ biết tôi là em của anh. Anh vừa là trách nhiệm của tôi, vừa là điều hổ thẹn của tôi.

Gia đình của Sara có vẻ rất đáng nể. Tất cả đều có học, tài giỏi, và cuộc sống hình như rất suôn sẻ. Bố cô ấy là một kiến trúc sư thành đạt, nhiều thành tích chuyên môn và có thu nhập đủ để chu cấp cho gia đình với mức sống tôi chưa từng biết đến.

Gia đình cô ấy sống trong một ngôi nhà rộng rãi ở Saratoga, một trong những khu sáng giá nhất ở California. Phía bên kia đường trước nhà cách một quãng là một khu nghĩa trang cổ và phía sau nhà nhìn ra một rìa núi. Quanh nhà rợp bóng cây xanh, vườn nhà trải dọc sườn đồi, cả nhà thành một khu riêng cách xa khu dân cư phía dưới đồi.

Nhìn đồ đạc trong nhà thì thấy đây là một gia đình trung lưu bền vững và am hiểu văn hóa. Chiếc đàn dương cầm lớn trong phòng khách đã cũ mòn sau những giờ học đàn của Sara và bốn chị em khác trong nhà. Đồ gia bảo, sách, tác phẩm nghệ thuật ở khắp nơi. Các phòng treo đầy bằng cấp, giải thưởng trong khung kính, gợi nhắc về những thành tích và danh hiệu.

Đó là cuộc sống mà trước đây tôi đã từng mong được sống. Thế nhưng, càng gần ngày cưới tôi lại càng cảm thấy lo ngại tôi sẽ lạc lõng giữa gia đình ấy và lại càng nhận rõ sự khác biệt giữa hai đứa chúng tôi. Dường như gia đình cô ấy chẳng có vấn đề gì cả, không có ai nghiện rượu, khuyết tật, nghèo khổ, hay thất bại trong sự nghiệp. Thậm chí về chính trị, tôn giáo, họ cũng “chính thống”, giống như trang phục của cả gia đình – được mua ở những cửa hàng cao cấp trong vùng và ở San Francisco.

Mẹ của Sara sắp đặt tổ chức một lễ cưới hoàn hảo ở nhà thờ Tân giáo lâu đời nhất ở San Jose và chúng tôi trao lời thề nguyện trước sự chứng kiến của một đám đông những người trước đó tôi chưa từng gặp mặt. Sau lễ cưới, chúng tôi quay về nhà cô ấy, uống sâm banh và khiêu vũ với sự góp mặt của một dàn nhạc ở khoảng vườn sau nhà.

Vợ chồng chị Frances lái xe đưa hai cậu con trai từ Seattle tới dự lễ cưới. Mẹ tôi cũng đến, vì đây là một dịp giao tế xã hội hiếm hoi với mẹ và cũng là cơ hội để mẹ có chút tự hào. Bác Corintha, chị gái của ba tôi, đã goá chồng, cùng từ Oakland tới dự, ngoài ra có vài người họ hàng sống gần đó nữa.

Trong khi chúng tôi dự tiệc đến tận khuya, Sumner ngồi một mình trong một căn phòng khách sạn ở phía dưới quả đồi.

Mặc dù gia đình vợ tôi hẳn cũng sẽ đón tiếp anh, tôi và mẹ đều thấy không thể vui cười nếu đưa anh đến buổi tiếp tân. Chúng tôi cần một buổi tối để tiệc tùng, và để có mấy tiếng đồng hồ không chút lo âu gì ấy, chúng tôi đã giả vờ như anh không hề tồn tại trên đời.

Sau lễ cưới, Sara và tôi lái xe về Seattle để tiếp tục cuộc sống sinh viên cao học với mức thu nhập ít ỏi. Cả hai đều làm trợ giảng tại Đại học Washington, cô ấy thì ở khoa tiếng Pháp, còn tôi thì ở khoa tiếng Anh. Chúng tôi thường xuyên gặp gỡ các bạn bè cùng trường và bạn cũ của tôi ở Harvard.

Sau khi cưới, chúng tôi vẫn tiếp tục về nhà ăn cơm tối Chủ nhật với mẹ và anh Sumner. Đôi khi Sara không muốn mẹ quá phụ thuộc vào tôi, nhưng cô ấy vẫn chấp nhận về với mẹ và anh. Thực ra, tôi ngạc nhiên khi thấy Sara chẳng ngại gì hành vi của anh Sumner.

Cô ấy phản ứng với anh Sumner nhẹ nhàng hơn tôi nhiều. Cũng tương tự, chồng chị Frances hình như cũng chấp nhận anh Sumner không mấy khó khăn. Chính những đứa em của anh, suốt bao năm lớn lên cùng anh và luôn nhớ về những lần bị xấu mặt hồi bé nên mang cả những vấn đề từ ngày nảo ngày nào vào cuộc sống trưởng thành. Còn vợ tôi hay chồng chị tôi thì kiên nhẫn chấp nhận anh. Những cử chỉ mà tôi và chị thấy xấu hổ, mất mặt thì vợ tôi hay chồng chị chỉ thấy buồn cười.

Nếu hai vợ chồng chúng tôi về muộn giờ cơm, anh Sumner chào đón hai đứa với những cái nhăn mày, cau mặt, gắng hết sức để tỏ sự phật ý không lời. Anh xô đĩa bát trên bàn. Trong lúc ăn, thậm chí anh còn nhổm lên khỏi ghế để đánh rắm, muốn cho chúng tôi nhận thấy rõ từng phát rắm.

Thấy vợ mình chấp nhận anh Sumner, tôi cũng thấy dễ bỏ qua cho anh hơn. Nhìn anh bằng cách nhìn của cô ấy, tôi bắt đầu nhận ra quy luật trong hành vi của anh. Cũng như mọi người, anh cũng cần có cách bày tỏ cảm xúc của mình – sốt ruột, thất vọng, hay bực bội. Những tình cảm của anh không có gì là không phù hợp, chỉ có điều là anh không bộc lộ bằng lời nói được.

Sau khi cưới, tôi thông cảm và thương anh Sumner hơn. Nhưng những cảm xúc ấy bị lấn át bởi cảm giác có lỗi và lo sợ – tôi thấy có lỗi vì không thể chịu được nếu phải sống cùng anh lâu dài, và lo sợ là rồi tôi sẽ phải sống với anh sau khi mẹ mất.

Rốt cuộc, tôi bắt đầu nhận ra một nỗi lo mới, đó là tình trạng khuyết tật khó hiểu và đau lòng này có thể ảnh hưởng đến con cái chúng tôi.

Rõ ràng là Sara muốn có con. Từ hồi mới hẹn hò nhau hai đứa chúng tôi đã mặc nhiên cho rằng một ngày nào đó chúng tôi sẽ có một gia đình. Ba năm sau ngày cưới, Sara nghĩ rằng đã đến “một ngày nào đó” ấy. Cô ấy biết cảm giác bất an của tôi, nhưng những mối lo của tôi có vẻ như không có cơ sở. Hai đứa chúng tôi thống nhất là tôi rốt cuộc cũng sẽ phải lựa chọn là có con hay không, vì vậy, chúng tôi quyết định nói về tình trạng khuyết tật của anh Sumner với bác sỹ gia đình của chúng tôi.

Bác sỹ khiến tôi yên lòng. Không có lý do gì để tin là vấn đề về di truyền gây ra tình trạng khuyết tật của anh tôi. Tình trạng khuyết tật của anh Sumner dường như là một trường hợp ngẫu nhiên đơn giản bị tổn thương về não, có thể là do mẹ tôi đau đẻ lâu và đẻ khó, hoặc do mắc căn bệnh gì đó hồi còn bé. Xác suất lặp lại trong cùng gia đình là rất thấp. Theo xác suất thống kê, bi kịch kỳ lạ ấy ít có khả năng xảy đến với gia đình vợ chồng tôi hơn là khả năng người ta bị “sét đánh”. Nghe những lời động viên ấy của bác sỹ, tôi yên tâm chờ đến ngày được làm bố.

Sara và tôi mừng rơn khi cô ấy có bầu. Chúng tôi thích thú đi chọn đồ em bé, bàn nhau đặt tên con, và chuẩn bị đủ thứ đón chờ em bé ra đời. Em bé trong bụng mẹ đã cho tôi hy vọng rằng cuối cùng thì tôi cũng sẽ có một gia đình “bình thường”. Cũng giống như những đứa con của các chị tôi đã giúp các chị cảm thấy an tâm và tự tin, tôi mong chờ có một đứa con để có thể tự hào.

Quá trình thai nghén của vợ tôi diễn ra bình thường. Sara và tôi cãi nhau nhặng xị về chế độ ăn của cô ấy, cô ấy đã bỏ hút thuốc lá và tránh những thứ có thể ảnh hưởng xấu đến em bé. Khi cô ấy đến ngày sinh, chúng tôi không có chút lo lắng nào.

Ngày 25 tháng 11 năm 1970, vợ tôi sinh một cậu con trai đủ ngày đủ tháng. Cô ấy đau đẻ 10 giờ đồng hồ thì bác sỹ chỉ định mổ. Tôi bồn chồn hỏi bác sỹ câu hỏi đã khiến tôi lo lắng suốt chín tháng: “Có bất ổn gì xảy ra với con tôi không”?

“Không xét nghiệm nào cho thấy có vấn đề gì, ngoại trừ là bé sẽ trông rất giống bố”.

Đó là những lời tôi đang mong chờ. Sau cả một đêm không ngủ, tôi tới phòng hậu sinh để ngắm nhìn con trai mình. Tôi cứ ngắm mãi đứa con đẹp đẽ của chúng tôi và không còn cảm thấy lo lắng nữa.

Cũng như mọi người cha trên đời, tôi thấy đứa con của mình không chỉ là người nối dõi, thừa kế tài sản của vợ chồng tôi. Con còn là sự hứa hẹn về một tương lai tốt đẹp hơn, một hy vọng mỏng manh là một ngày nào đó con sẽ lớn lên thành người với tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của chúng tôi mà không bị ảnh hưởng của bất kỳ thuộc tính xấu nào của chúng tôi.

*

Chương 5

Vợ chồng tôi đã không lo lắng khi thấy con phát triển chậm về mặt xã hội vì con còn thể hiện bao nhiêu kỹ năng khác

Chúng tôi đặt tên con là Edward Richards Hart và đặt biệt hiệu cho con là Ted, giống tên một cậu bạn học cùng Harvard mà tôi luôn ngưỡng mộ. Khi một người quen của một vị tiến sỹ về tâm lý trẻ em nói rằng khăn trải giường nhiều hoa văn và sự kích thích qua thị giác có thể nâng cao trí thông minh, hai vợ chồng tôi vội đi mua sắm. Tôi dán tường phòng con toàn những màu sặc sỡ.

Sara và tôi tự hào về đứa con đẹp như tranh của mình và sung sướng đón nhận những chúc mừng từ bạn bè và họ hàng. Tôi ghi lại và so sánh những bước phát triển của con với biểu đồ phát triển trong phòng khám của bác sỹ và trong các cuốn sách về sự phát triển ở trẻ em. Tôi thấy an tâm vì con đạt các mốc phát triển về thể chất và trí tuệ đúng hạn. Đôi khi, vợ tôi thấy khó chịu vì tôi quá chú tâm ghi chép, đối chiếu. Cô ấy yêu đứa con mà cô ấy đã mong mỏi từ bao năm nay và tin tưởng chắc chắn rằng con sẽ lớn lên thành một đứa bé khoẻ mạnh, thông minh như các cháu con nhà anh chị mình.

Sinh nhật đầu tiên của con, vợ chồng tôi mời hai cặp vợ chồng có con nhỏ nữa tới cùng dự. Chúng tôi trang trí trần phòng khách bằng bóng bay, ruy băng và trải một tấm vải nhựa to che hết thảm trên sàn để tụi trẻ thoải mái ăn bánh, ăn kem không sợ giây bẩn. Mấy người lớn chúng tôi hỉ hả cười đùa với nhau rằng, người lớn còn khoái tiệc sinh nhật hơn tụi nhỏ. Bọn trẻ con thì có vẻ như đứa nào cũng chỉ muốn bám mẹ hơn là chơi với nhau.

Chúng tôi múc kem ốc quế và cười vỡ bụng trước cái cách tụi trẻ “tấn công” món này… chỉ trừ Ted. Trong lúc mấy đứa trẻ kia hào hứng chén kem, bôi bẩn hết cả quần áo, mặt mũi, con tôi trông thật ngơ ngác và rồi khóc toáng lên. Có vẻ như con sợ kem, và kem cứ tan ra chạy dọc ống ốc quế ướt cả tay con. Sara bày cho con đưa ốc quế lên miệng liếm. Cho dù hành vi của con có vẻ hơi khác các bạn, nhưng vợ chồng tôi cho rằng có lẽ con thấy lạ vì chỉ quen ăn bằng thìa.

Suốt hai năm tiếp theo, thỉnh thoảng vợ chồng tôi nhận thấy những hành vi khác của con không giống những đứa trẻ khác. Con cũng đi nhà trẻ, rồi lên mẫu giáo, nhưng con không chơi với các bạn. Con thích chơi với người lớn hơn.

Vợ chồng tôi đã không lo lắng khi thấy con phát triển chậm về mặt xã hội vì con còn thể hiện bao nhiêu kỹ năng khác. Chúng tôi nghĩ rằng chỉ đơn giản là tính con không thích quấn quít, có lẽ con hơi bướng nữa, nhưng con thông minh hơn các bạn bằng tuổi. Tôi đã vô cùng thán phục khi thấy con thuộc bảng chữ cái lúc hai tuổi rưỡi.

Năm 1973, Sara có mang đứa con thứ hai của chúng tôi và bà ngoại đến thăm. Cả nhà dắt Ted đi dạo, đi qua khách sạn Wilsonian, với dòng chữ tên hiệu lóng lánh ở lối vào. “Đấy là chữ W”. Ted tự hào nói. Bà ngoại cười sung sướng và nói “Giỏi như các bạn trong phim hoạt hình Sesame ấy nhỉ”.

Chúng tôi không tin là Ted có vấn đề gì, vì con có vẻ thật thông minh. Quả thật, chúng tôi nghĩ là con không thích chơi với các bạn vì con thông minh, trưởng thành hơn các bạn nên không thấy chơi với các bạn là thú vị thôi. Tuy nhiên, chúng tôi bắt đầu cảm thấy lo lắng là con có vẻ quá thụ động. Nếu con nghịch lò sưởi hay lôi đĩa bát ra khỏi tủ đựng bát – cũng như bất kỳ đứa trẻ lên hai nào thôi – vợ chồng tôi chỉ cần nói “không được” một lần và thế là con sẽ không bao giờ nghịch ở những chỗ ấy nữa. Mặc dù chúng tôi thấy con vâng lời như thế có vẻ gì không bình thường lắm, nhưng lại nghĩ có đứa con dễ bảo thế này thật là may.

Sara làm giáo viên tiếng Pháp ở một trường đại học gần nhà. Một đồng nghiệp của cô ấy cũng nghỉ sinh con cùng đợt Sara sinh Ted. Hai bà mẹ trẻ say sưa khoe ảnh con và kể chuyện con với nhau. Suốt mấy năm trời, hai bà hăng hái so sánh con với nhau – đối chiếu lịch mọc răng cũng như các mốc phát triển trẻ em khác.

Khi Ted vừa qua sinh nhật hai tuổi, một hôm Sara có vẻ buồn phiền. Tôi hỏi cô ấy sao thế và vợ tôi giải thích:

– Hôm nay em nói chuyện với Barb và chị ấy kể cho em nghe mấy câu hỏi rất ngộ nghĩnh của Kali.

Vẫn chẳng hiểu ra sao cả, tôi hỏi:

– Thế thì có gì mà em phải buồn?

– Chuyện đấy làm em nhận ra điều này: Ted nhà mình không đặt câu hỏi.

Vợ tôi trả lời. Cả hai chúng tôi đều lặng yên hồi lâu, chẳng biết phải lý giải thế nào. Chúng tôi biết rằng tụi trẻ hai tuổi đáng ra rất hay hỏi. Bao ông bố bà mẹ thậm chí còn kêu ca phàn nàn hay cười đùa về những tràng câu hỏi “Tại sao? Tại sao? Tại sao?” của các con ở tuổi này.

Bà nội, bà ngoại đều an ủi vợ chồng tôi rằng không có gì phải lo lắng, nên chúng tôi thôi không nghĩ về chuyện đó nữa mà chỉ tìm cách hỏi đáp nhau thật nhiều làm mẫu cho Ted nghe.

Hôm trước sinh nhật lần thứ ba của Ted, có một vụ việc làm chúng tôi thật bối rối. Hai vợ chồng tôi đưa Ted đi mua giầy. Trong lúc chúng tôi đợi đến lượt vì cô bán hàng quen đang bận, Ted ngồi chơi trên một chiếc ghế thấp. Một cậu bé gốc Á nhỏ bé chạy lại nhòm vào mặt Ted. Bé này có vẻ thấy thích mái tóc dày vàng hoe của Ted và đưa tay vuốt tóc Ted. Chẳng thấy Ted có phản ứng gì, cậu bé kia nắm chặt lấy những lọn tóc vàng của Ted và ra sức giật.

Sara và tôi cảm thấy hãi hùng, không phải vì sự hiếu kỳ của cậu bé kia, mà vì Ted không có phản ứng gì. Cậu bé kia mỗi lúc một lấn lướt hơn, nước mắt Ted chảy ròng ròng, nhưng con không hề tìm cách chạy đi hay tự bảo vệ mình.

Hai vợ chồng tôi không thể giải thích được và cũng không thể quên được việc Ted không hề chống trả lại này. Những điểm khác biệt khác của con có vẻ dễ chấp nhận và lý giải hơn, nhưng điểm khác biệt này làm chúng tôi hoảng sợ. Chúng tôi đã nghĩ việc con không thích hỏi hay không thích chơi với trẻ con khác chỉ là một giai đoạn nhất thời, lớn lên con sẽ hết, nhưng chúng tôi thật sự lo lắng khi thấy con hoàn toàn không chống trả gì và bị một đứa trẻ bé hơn bắt nạt. Hai vợ chồng tôi bắt đầu lo rằng con chúng tôi thực sự có gì đó khác biệt, và sự khác biệt đó có thể khiến con phải khổ sở.

Lời cảnh báo từ nhà chuyên môn đầu tiên mà chúng tôi nhận được là từ hiệu trưởng trường mầm non của Ted – trường Virginia’s Preschool. Một buổi chiều, hai vợ chồng tôi đến đón con ở trường và nhận được yêu cầu nói chuyện riêng với hiệu trưởng. Chúng tôi nghĩ sẽ nhận được thông báo tăng học phí hay quy định mới về đồ gửi lại trường cho con. Thay vào đó, bà hiệu trưởng – Virginia – mào đầu bằng một lời an ủi:

– Đây là một trong những điều tôi thấy khó nói nhất trong suốt mười năm dạy ở đây.

Cả hai vợ chồng tôi đều ngỡ ngàng.

– Sắp đến kỳ bác sỹ làm kiểm tra lứa tuổi lên ba cho Ted. Tôi nghĩ đến hôm đó anh chị nên trình bày với bác sỹ về những điều đáng lo ngại trong quá trình phát triển của con.

Tôi cố gắng hỏi Virginia cụ thể hơn, nhưng có lẽ bà muốn tránh đi hay cũng không biết rõ nên chỉ nói:

– Tôi không biết đích xác vấn đề là gì, nhưng rõ ràng là Ted có cái gì đó khác bình thường và tôi không biết phải làm gì để giải quyết vấn đề này cả.

Đêm đó, cả tôi và Sara trằn trọc trước lời cảnh báo của bà Virginia. Có quá nhiều hướng để nghĩ và chúng tôi chẳng biết vào tin vào cảm nhận nào. Trước hết, chúng tôi muốn bảo vệ Ted trước sự chỉ trích. Nhưng chúng tôi phải thừa nhận là chúng tôi luôn kính trọng bà Virginia về trình độ cũng như kinh nghiệm dạy trẻ em của bà. Chúng tôi quyết định cần có ý kiến chuyên môn về vấn đề này và lên lịch hẹn với bác sỹ.

Ngày 7 tháng 11 năm 1973, Sara sinh cậu con trai thứ hai của chúng tôi, Nicholas Clark Hart. Bốn ngày sau, tôi chở hai mẹ con từ bệnh viện về nhà rồi đến trường mầm non đưa Ted đến chỗ hẹn bác sỹ. Vẫn không hiểu được vấn đề của Ted là gì, tôi gắng hết sức trình bày với bác sỹ những điều làm chúng tôi lo lắng.

Tôi kể về lời khuyên của bà Virginia và những chi tiết nhỏ mà chúng tôi quan sát thấy. Ông bác sỹ cau mày và nói rằng ông nghĩ nên cho Ted đi khám bác sỹ tâm lý. Sau đó ông cảnh báo tôi:

– Tôi biết duy trì một gia đình rất vất vả nếu vợ ông vẫn muốn đi làm. – Ông giải thích rằng vợ ông cũng đi làm và họ đã phải gắng thu xếp. Ông nói thêm- Những người thông minh, có học như các bạn đáng ra phải có những đứa con như những chiếc Cadillac hay thậm chí là Rolls-Royces. Nhưng nếu các bạn để cho người khác chăm sóc con mình, bạn sẽ chỉ có một chiếc Chevrolet hay một chiếc Jeep mà thôi.

Tôi đồng ý lên lịch hẹn với bác sỹ tâm lý trẻ em và lái xe đưa Ted về nhà, nơi Sara và cậu em trai bé bỏng của con đang chờ. Tôi lo sợ không biết phải nói với Sara thế nào về ý kiến của bác sỹ – rằng những vấn đề của Ted là nghiêm trọng, và lỗi là do hai vợ chồng tôi.

Tôi và Ted bước vào nhà và thấy Sara đang cho em bé bú. Tôi nóng lòng quan sát phản ứng của Ted với cậu em. Liệu con có ngạc nhiên không? Ghen tỵ? Vui mừng? Chỉ đơn giản là tò mò? Con chẳng có phản ứng gì hết cả. Dường như em bé đang bú tí mẹ kia chẳng khác gì một chiếc gối hay mớ quần áo cả.

– Táu – Ted nói, và tôi biết con muốn ăn táo. Sara và tôi cố gắng làm con chú ý đến em bé, nhưng rồi chúng tôi đầu hàng và đành để Ted về phòng của con và chơi trong đó. Hai vợ chồng tôi băn khoăn không hiểu có phải thực sự Ted không hề quan tâm gì đến em bé hay là con đang quá ghen tỵ với em bé, đến mức không thể có được một phản ứng nom bình thường hơn.

Chúng tôi hy vọng rằng bác sỹ tâm lý sẽ nói cho chúng tôi biết chúng tôi đã nuôi dạy con sai ở đâu để chúng tôi còn sửa chữa. Mặc dù chúng tôi không thích thú gì khi phải chấp nhận rằng mình đã có lỗi, nhưng chúng tôi vẫn mong mỏi sẽ có hướng thay đổi cuộc sống của mình để “chữa” cho con.

Chúng tôi có cảm giác ông bác sỹ tâm lý là một người nhạy cảm và cẩn trọng. Trong các buổi hẹn, ông chơi với Ted, rồi phỏng vấn Sara và tôi. Sau bốn lần gặp, ông nói rằng ông chưa thể đưa ra chẩn đoán lúc này. Ông giới thiệu chúng tôi đến Khoa Tâm bệnh nhi của bệnh viện Đại học Washington và thu xếp để một nhóm chuyên gia đánh giá cho Ted.

Vợ chồng tôi theo lời khuyên của ông. Trong lúc đợi Ted đến lượt vào chương trình đánh giá kéo dài bốn tuần tại Khoa Tâm bệnh nhi, chúng tôi cố gắng lạc quan và an ủi họ hàng hai bên rằng chúng tôi đã tìm cách cho con đi khám ở nơi đáng tin cậy rồi.

(còn nữa)

6 thoughts on “Without Reason – Charles Hart (Phần 2)

  1. Cám ơn Bạn,

    Cám ơn các Bạn đã dịch quyển này. Mình vừa đọc một lèo, và in ra cho một vài người bạn đọc. Câu chuyện cảm động và không chỉ nói về tự kỷ, nhiều điều rất sâu sắc. Các Chương 31.32, 33 chẳng hạn.

    Về bản dịch, các Bạn nên xem lại các Chương 13, mình thấy còn có chỗ chưa ổn lăm, nhất là đoạn cuối. Thí dụ như đoạn sau đây đọc thấy lủng củng “Vấn đề của Ted khi hiểu tại sao khiến con không thể vượt qua những cụm từ thông thường nhưng phát bực khi cứ hỏi mãi: “Tại sao?” giống như đứa em trai của con: “Sao con phải làm vậy?”, “Sao con không làm được?”, “Tại sao bầu trời lại màu xanh?”, “Sao mặt trăng lại không rơi xuống nhỉ?””. Còn trong Chương 15 lại dùng “Ba” thay vì “Bố” như ở các Chương trước, và một số chỗ khác.

    Các phần khác dịch hay, ngoài một số lỗi typing.

    Các Bạn có định xuất bản cuốn này không?

    Chúc các Bạn thành công.

    A’nh

    • Nhóm dịch giả đồng ý chuyển cách dịch tên theo đề nghị của anh Ánh. Xin cám ơn anh.
      Nhiều người đọc cuốn tự truyện của Charles cũng chia sẻ nhận xét của anh. Câu chuyện mang tính giáo dục cao, thật tự nhiên, đầy tình người với cả những cái xấu và những cái tốt. Sẽ thật tốt khi cuốn sách đến được với nhiều đọc giả Việt hơn.
      Đúng là còn những “hạt sạn” như anh phát hiện. Chắc biên tập viên Tiểu Tròn Vo sẽ hiệu đính thêm khi có điều kiện. Một lần nữa cám ơn anh Ánh.

  2. Tôi đã định “Hết góp ý” rồi, nhưng vẫn có 1 ý nữa xin anh chuyển cho Tiểu Tròn Vo (nick ấn tượng quá! :-)):

    Mặc dù bản dịch nói chung là rất tuyệt, gần như không cần chú thích gì của người dịch, nhưng nếu hướng đến việc xuất bản để đến với nhiều người đọc hơn nữa, một số chỗ vẫn không thể thiếu sự giải thích thêm của người dịch.

    Trong bản dịch, các dịch giả đã để các chú thích của mình ngay trong bài chính và để trong ngoặc (nhưng chỗ thì (), chỗ thì []🙂 ), khi biên tập, xin Tiểu Tròn Vo tìm cách gì cho thống nhất vụ này, thí dụ đánh số và để chúng xuống dưới chân trang.

    Ngoài ra, đoạn mặc cả rất thú vị ở cái quán sách cũ bờ sông Seine cũng cần giải thích, vì nhiều người sẽ không hiểu dân Pháp nói 80 là 4×20 và 90 là 4×20+10. Riêng tôi khi mới học tiếng Pháp đến chỗ này, tôi cũng thấy dân Pháp thật rắc rối. Nhưng sau lại nghĩ có khi chính vì vậy mà họ giỏi toán thế🙂

    Xin cám ơn anh và các dịch giả đã lưu ý đến vài góp ý của tôi. Lần này thì xin hết góp ý thật :-))

    Chúc một cuối tuần vui vẻ.

    Ánh

    • Những ý kiến của anh Ánh thật quý giá. Mong nhóm bạn trên webtretho sẽ hòan thiện bản dịch và xuất bản cuốn sách.
      VDM

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s