Without Reason – Charles Hart (Phần 6)

Charles Hart

Không Duyên Cớ
(Một Gia Đình Phải Đối Mặt Với Hai Thế Hệ Mắc Hội Chứng Tự Kỷ)

Dịch từ nguyên bản tiếng Anh
Without Reason: A Family Copes with Two Generations of Autism
của Nhà Xuất bản Penguin Books USA Inc.

Người dịch: nhiều thành viên của webtretho

*

Chương 21

Chúng tôi biết con có những kỹ năng mà chúng tôi không thể tiếp cận. Con giống như một chiếc máy tính có thể thực hiện nhiều chức năng, nhưng chỉ khi bạn bật đúng công tắc hoặc đưa ra mệnh lệnh chính xác.

Ted vẫn tiếp tục phụ thuộc vào tôi và Sara như Sumner từng dựa dẫm vào mẹ. Kiểu phụ thuộc này làm tôi sợ hãi và thất vọng. Có gì hay ho cho Ted đâu khi con chỉ có thể hành động đúng trước mặt cha mẹ của mình? Mẹ tôi có thể đã trông coi Summer tốt hơn những người khác, nhưng sự giám sát thường xuyên và tức thời của bà không chuẩn bị cho anh sẵn sàng với cuộc sống không có mẹ. Tôi không muốn giữa tôi và Ted sẽ tiếp diễn cảnh phụ thuộc cả đời đó.

Một ngày nọ, khi đang sắp xếp chồng hình ảnh và thư từ được lưu giữ kể từ khi mẹ mất, tôi bỗng bắt gặp một hình ảnh mà với tôi, nó gióng lên một hồi chuông như lời cảnh báo mẹ gửi lên từ nấm mồ.

Bức ảnh, được chụp dưới ánh sáng chói chang ngoài trời, ghi lại cảnh mẹ đang ôm tôi trong lòng. Lúc đó tôi khoảng 4 tuổi, như vậy mẹ đang ở độ tuổi 42. Tôi choáng váng nhận ra mẹ trông già hơn tuổi nhiều. Ngắm nhìn khuôn mặt mệt mỏi, lo âu và thân hình gầy gò của mẹ, tôi thấy một người phụ nữ mà tôi chưa từng thấy trước đây. Thuở nhỏ, tôi chỉ nhìn thấy bà trong mối quan hệ với tôi, là mẹ của tôi.

Gần 40 năm sau, tôi nhìn lại bức ảnh ghi lại hình ảnh của mẹ một cách chân thực đến phũ phàng, và tôi thấy một người phụ nữ khác. Không phải là nguồn cung cấp sinh lực và tình thương ấm áp dành cho cậu bé trong lòng bà, mà là người mẹ tuyệt vọng và dễ tổn thương của Sumner. Dù anh chẳng hề xuất hiện trong bức ảnh, vẫn có thể thấy anh hiển nhiên hiện diện trong ánh nhìn âu lo và vô vọng của mẹ. Đó là chân dung một người phụ nữ với cậu con trai 24 tuổi mắc chứng tự kỷ, người chưa từng rời mẹ trong bất kỳ chuyến đi qua đêm nào, người chưa từng đến trường, chưa từng trải qua một ngày xa mẹ.

Đôi lúc, tôi cảm thấy có tội vì tôi không thể thực hiện mong muốn trước khi chết của cha, rằng tôi sẽ đưa Sumner về nhà mình sống nốt cuộc đời còn lại của anh. Tôi cũng lo lắng, mình và Sara sẽ không có được khả năng chịu đựng phi thường của mẹ, rằng chúng tôi sẽ không thể chịu nổi cả cuộc đời có Ted cạnh bên. Nhưng bức ảnh này đã thay đổi cảm xúc của tôi. Phải có một cách khác. Nỗi u sầu trên khuôn mặt mẹ tôi cho tôi biết bà đã phải hy sinh nhiều nhường nào, hy sinh ngay cả niềm vui giản đơn của cậu bé ngồi trong lòng bà.

Sumner luôn phụ thuộc và sống trong vòng tay mẹ, trông cậy vào sự điều khiển của mẹ trong khi bà đóng vai trò là người phiên dịch giữa anh và thế giới bên ngoài. Kiểu quan hệ đó đã không đáp ứng tốt cho cả hai. Có lẽ tôi, cũng vậy, sẽ trở thành người phiên dịch cho đứa con trai tự kỷ của mình, nhưng tôi lại muốn chuẩn bị để con có thể sống tách biệt.

Chúng tôi nghĩ rằng giáo dục có thể giúp Ted bước tiếp con đường dẫn tới cuộc sống độc lập, hoặc chí ít là ít phụ thuộc hơn Sumner. Sau khi chiến thắng trong vụ kiện với Sở Giáo dục Seattle, chúng tôi có nhiều quyền năng hơn hẳn trước đây. Cơ quan hành chính cấp trên đã gửi thông điệp, rằng gia đình Hart đáng được hưởng những gì họ yêu cầu. Dù biết ơn sự hợp tác đột ngột đó, chúng tôi cũng nhận ra rằng, có gì đó về cơ bản là không công bằng trong một hệ thống có thể bỏ mặc những đứa trẻ có phụ huynh kém kiên quyết hơn hoặc nằm trong 90% cũng theo đuổi việc kiện cáo nhưng thua kiện.

Vào mùa thu sau vụ kiện, Ted bắt đầu tham gia các lớp học tại Cung Thiếu nhi của Seattle, một trong những tổ chức từ thiện có uy tín và lâu đời nhất của thành phố. Ở đó có mở một trường học dành riêng cho những trẻ em bị cho là “rối loạn cảm xúc”.

Mặc dù chúng tôi biết hội chứng tự kỷ không bắt nguồn từ chứng rối loạn cảm xúc, mà là một khiếm khuyết bẩm sinh của hệ thần kinh, chúng tôi chấp nhận việc xếp lớp này vì một bác sĩ trị liệu về giao tiếp giỏi nhất trong vùng làm việc ở đó. Hầu hết cán bộ của trường học là nhân viên thuộc Sở Giáo dục. Tuy nhiên, tổ chức từ thiện đã tài trợ tiền lương cho các bác sĩ trị liệu và mua sắm giáo cụ cho giáo viên.

Cung Thiếu nhi yêu cầu chúng tôi dự các buổi tư vấn hàng tuần dành cho gia đình của học viên. Chúng tôi không hài lòng với yêu cầu đó, vì nó hàm ý rằng gia đình tôi có trách nhiệm trong việc sinh ra đứa con khuyết tật. Quy định được đặt ra do có một số học viên xuất thân từ những gia đình có nạn bạo hành. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau chúng tôi nhận thấy, mình cũng có lợi khi tham gia các cuộc gặp với một tư vấn viên giỏi nghề và đồng cảm.

Mỗi tuần một lần, Sara đi làm về sớm để đón tôi và Nick. Chúng tôi sẽ lái xe đến Cung Thiếu nhi Seattle (Cung thiếu nhi Seattle là một tổ chức cá nhân phi lợi nhuận được thành lập năm 1884 nhằm chăm lo sức khỏe tâm thần cho trẻ em và gia đình của những trẻ này ở thành phố Seattle, hạt King, bang Washington. Cứ 1/5 trẻ trên khắp nước Mỹ lại được chẩn đoán có bệnh liên quan tới tâm thần (theo báo cáo của quân y về sức khỏe tâm thần năm 2009) vài phút sau khi ngày học của Ted kết thúc. Chúng tôi sẽ tìm thấy Ted trong sân chơi, thường là trong khu trò chơi vận động hoặc trên một cành cây thấp và tự nói chuyện với mình. Vào mùa thu hoặc đông, con sẽ kéo chiếc mũ áo khoác trùm lên đầu, kéo chặt dây mũ đến mức chỉ còn mũi và cằm lộ ra ngoài.

Dường như con nghĩ không ai có thể nhìn hoặc nghe thấy mình khi con trốn đi như thế. Các giáo viên kể cho chúng tôi rằng, con thích nghỉ giải lao cũng ở chính chỗ đó, tách biệt khỏi những đứa trẻ khác, và lẩm bẩm những điều vô nghĩa. Khi trời ấm lên, không còn mũ trùm đầu, con sẽ nhắm chặt mắt và đưa tay lên bịt tai, tưởng tượng ra sự riêng tư, tin chắc rằng mọi người không thể theo dõi con chừng nào con không nhìn và nghe thấy họ.

Trong các buổi tư vấn, chúng tôi nói chuyện về sự tiến bộ của Ted tại trường và ở nhà. Chúng tôi cũng cố thổ lộ thành thật về những căng thẳng trong gia đình và những vấn đề hai đứa con trai của chúng tôi gặp phải khi đối xử với nhau. Cả hai đứa đều ghét những buổi gặp gỡ như thế. Nick sẽ điều đình để được phép ra sân chơi. Ted chỉ đơn giản là không tham gia, mơ màng hoặc mặc kệ chúng tôi. Chuyên gia tư vấn yêu cầu chúng tôi mô tả một buổi tối kiểu mẫu sau giờ học ở nhà. Sara nói về lịch trình bận rộn và sự chen ngang chúng tôi thường phải đối mặt khi bọn trẻ bắt đầu gây sự với nhau.

– Chuyện thực sự trở nên khó khăn vào bữa tối,- tôi bổ sung- khi chúng tôi cố gắng bày thức ăn lên bàn.

Tất cả mọi người đều mệt mỏi, cáu kỉnh và Ted bắt đầu gây rối với trò nói lặp vô nghĩa.

– Xin lỗi, ý ông muốn nói gì, ông Hart- chuyên gia tư vấn hỏi- khi ống nhắc đến ‘trò nói lặp’?”. Tôi sắp sửa đưa ra định nghĩa “những lời nói vô nghĩa không liên quan”, nhưng ngay khi tôi ngừng lại để chọn từ ngữ, Ted rời mắt khỏi món đồ chơi khủng long và thốt lên một tràng “Con-thích-con-vịt-có-mỏ-màu-xanh”.

Con lặp đi lặp lại như một câu thần chú với từng từ giật cục khiến sự kết hợp vô nghĩa giữa các từ hầu như biến mất khi được chuyển tải. Con đưa ra một ví dụ hoàn hảo về những gì từ điển gọi là nói lặp, “ngôn ngữ của kẻ ngốc”, những từ không có nghĩa, cả trong ngữ cảnh lẫn ngữ nghĩa.

– Cám ơn, Ted- tôi nói, và quay về phía chuyên gia tư vấn bổ sung thêm- Đó là điều tôi muốn nói tới.

Nick cười phá lên, nhưng những người lớn đều quay sang Ted với vẻ thắc mắc. Có vẻ như con hoàn toàn bị hút vào chú thằn lằn sấm đang cầm trong tay, nhưng con vẫn luôn lắng nghe cuộc trò chuyện và biết khi nào cần đóng góp một ví dụ ưa thích về trò nói lặp.

Cả gia đình và các nhân viên trong trường đều nhận thấy con có những khả năng mà chúng chỉ bộc lộ ra với những ai biết cách tiếp cận và đưa ra gợi ý phù hợp. Dường như con là một cỗ máy tinh xảo, có lẽ là một chiếc máy tính, có khả năng thực hiện nhiều chức năng, nhưng chỉ khi bạn nhấn trúng phím hoặc gõ đúng lệnh. Các ví dụ rõ ràng về vấn đề thi hành bí ẩn này cứ lặp đi lặp lại hoài.

Tôi và Sara cảm thấy lúng túng khi dạy cho Ted các kỹ năng làm việc nhà và vệ sinh cá nhân đơn giản. Khi chúng tôi cố chỉ cho con biết cách buộc dây giày hoặc trải giường, con phớt lờ mọi hành động, thay vào đó, con ngắm nghía khuôn mặt của chúng tôi. Sau các cố gắng lặp đi lặp lại chỉ khiến chúng tôi nản chí và đưa Ted vào tình trạng nóng nảy, chúng tôi bỏ cuộc.

Trong buổi nói chuyện lập kế hoạch học tập đầu tiên tại Cung Thiếu nhi, chúng tôi đã hỏi một bác sĩ trị liệu xem bà có thể dạy Ted buộc dây giày hay không. Con gần tròn 10 tuổi rồi, nên chúng tôi nghĩ rằng việc buộc giày nên được nhấn mạnh như một bước quan trọng để trở nên độc lập. Bác sĩ trị liệu đồng ý.
Ở nhà, chúng tôi kiên nhẫn chờ Ted trình diễn cho chúng tôi xem con có thể buộc dây giày. Đồng thời, chúng tôi tiếp tục giúp con vào mỗi buổi sáng và chán nản thấy con không hề tiến bộ. Một năm sau, vào buổi trao đổi hàng năm kế tiếp, chúng tôi đã lặp lại yêu cầu đó với bác sĩ trị liệu. Bà mở to mắt ngạc nhiên:

– Nhưng Ted đã học làm điều đó rồi kia mà.- Bà kiểm tra cuốn sổ ghi chép của mình và tìm thấy thông tin- Nó đây! Tôi biết là chúng tôi đã hoàn thành việc đó.

Bà cho chúng tôi xem những dòng ghi chú, cho thấy gần một năm trước bà đã dạy Ted cách buộc dây giày. Chỉ mất 5 tuần sau khi bà tiến hành phân tích quy trình buộc dây giày một cách kỹ lưỡng, tiến hành các buổi hướng dẫn 2 lần 1 tuần, và theo dõi tiến bộ cho đến khi con thành công. Không may là, không ai nói cho tôi và Sara biết, vì thế chúng tôi vẫn tiếp tục giúp đỡ Ted ở nhà. Con cũng chưa bao giờ cho chúng tôi biết là con đã học được kỹ năng đó. Hoặc con vẫn thích tiếp tục dựa dẫm vào chúng tôi, hoặc nghĩ rằng buộc giày là một kỹ năng cần thiết ở trường, nhưng không bắt buộc trong bất kỳ môi trường nào khác.

Bác sĩ trị liệu kiểm tra Ted tuần sau đó và thấy rằng con đã quên mất kỹ năng buộc giày vì thiếu tập luyện, vì thế, một lần nữa bà phải lặp lại từ đầu từng bước trong chuỗi xây dựng kỹ năng dài dòng. Tuy nhiên, lần này, bà gửi tin nhắn về nhà cho chúng tôi để biết khi nào thì ngừng giúp đỡ con.

Kinh nghiệm này dạy cho chúng tôi một bài học giá trị khác về trẻ tự kỷ: cha mẹ, giáo viên và những người chăm sóc cần phải duy trì giao tiếp thường xuyên. Vì không thể trông đợi một đứa trẻ tự đưa ra những thông tin cơ bản về thói quen và những mong muốn của mình, và vì mỗi trẻ có những điểm mạnh và yếu khác hẳn nhau, những người chăm sóc chúng không thể dự đoán trước điều gì cả.

Là người lớn, tôi và Sara có thể bào chữa cho nhiều hành vi gây bực dọc của Ted mà chúng tôi biết đó là một phần của hội chứng tự kỷ. Nhưng Nick càng ngày càng chán ngán anh mình khi chúng lớn dần lên. Chúng tôi nhận thấy không thể trông mong Nick hiểu được những mâu thuẫn kỳ lạ của anh trai, huống chi là giải thích cho bạn bè của Nick.

Tôi và các chị gái từng cảm thấy tuổi thơ của mình hằn lên những vết sẹo bởi sự thiếu thông hiểu của hàng xóm và bạn bè, những lời đồn và cái nhìn xét nét theo đuổi gia đình chúng tôi từ thành phố này sang thành phố khác. Dù chúng tôi yêu quý anh trai Sumner, chúng tôi ghét sự khiếm khuyết của anh ấy và coi bản thân chúng tôi cũng là nạn nhân như Sumner vậy.

Tôi phiền muộn khủng khiếp khi thấy nỗi nhục của gia đình mình tiếp tục xảy đến với thế hệ thứ hai, cảm thấy vô vọng khi tôi nhìn đứa con thứ của mình phải chịu đựng cùng sự chán chường và oán hận tôi từng nếm trải 30 năm trước đó.

Tôi và Sara đã cố bảo vệ cả hai con trai khỏi những lời chỉ trích không công bằng. Tuy nhiên, thi thoảng, chúng tôi không thể bảo vệ con khỏi phản ứng của người khác. Một sự kiện đặc biệt đã cho tôi thấy mức độ nặng nề của gánh nặng mà con trai thứ của chúng tôi đang phải chịu đựng.

Chúng tôi muốn cả hai con tham gia lớp học bơi. Vì vậy, khi hồ bơi công cộng gần nhà thông báo lịch học bơi cho trẻ em, tôi đã đăng ký cho Ted và Nick. Ban Giải trí đã sắp xếp nhiều trình độ khác nhau cùng học đồng thời nên các bé học bơi ở các lớp khác nhau phải cùng chia sẻ hồ bơi. Một hướng dẫn viên sẽ dạy riêng cho các trẻ em tàn tật, trong khi những bé khác được sắp xếp vào các lớp bình thường theo đúng khả năng.

Để thuận tiện, tôi đăng ký cho hai con vào hai lớp học cùng giờ để tôi chỉ phải đưa con đến hồ bơi công cộng trong một chuyến xe. Vì hai đứa sẽ có hướng dẫn viên và nhóm bạn học khác nhau, tôi không nghĩ sẽ có bất kỳ sự ganh đua hay so sánh không hay nào giữa các con của tôi và bạn bè chúng.

Dù Nick chỉ mới 5 tuổi, con có thể tự thay quần áo và sử dụng tủ đựng đồ công cộng. Tuy nhiên, tôi phải chỉ cho Ted biết mọi thứ và giám sát con cho tới khi con học được quy trình thay quần áo, tắm rửa… Tôi không muốn bị chú ý như phụ huynh duy nhất lượn lờ trong phòng thay đồ, vì thế tôi lên kế hoạch huấn luyện cho Ted càng nhanh càng tốt. Trong vòng vài tuần, con đã có thể tự lo một mình và tôi được tự do gia nhập nhóm các ông bố bà mẹ ở ngoài.

Mọi thứ có vẻ suôn sẻ như ý vào buổi chiều đầu tiên các con bước vào phòng thay đồ không có sự giám sát của tôi. Tuy nhiên, vào buổi chiều thứ hai, Nick cố kìm nước mắt khi bước ra. Tôi phải dỗ ngọt để con kể cho tôi nghe xem chuyện gì đã xảy ra. Năm tuổi, con đã đủ kiêu hãnh để không nói cho tôi biết tại sao con buồn bực. Không nhận ra rằng con muốn che chắn tôi trước những chuyện xô xát không hay, tôi khăng khăng buộc con nói.

– Một đứa trong đó hỏi Ted có phải là anh con không- con nức nở.

– Vậy con nói thế nào?

– Con nói đúng rồi, dĩ nhiên là thế- con nhìn tôi có vẻ phòng thủ- Rồi nó nói, ừ, anh mày ngu và mày cũng ngu dốt nốt!

Lời sỉ nhục đơn sơ của trẻ con khiến tôi choáng váng hơn tôi từng nghĩ. Nó tượng trưng cho xâu chuỗi dài dằng dặc những khinh khi và sỉ nhục trong xã hội mà các chị gái và tôi đã phải đối mặt trong suốt thời thơ ấu.

Lúc đó tôi đã thề sẽ làm mọi thứ trong khả năng có thể để bảo vệ cả hai cậu con trai khỏi những nhận xét tàn nhẫn và dốt nát. Ted không thể bị đánh giá thấp chỉ vì con thiếu những khả năng em trai mình có, và Nick không thể bị bêu xấu chỉ vì quan hệ giữa con và Ted. Chúng không bao giờ đi bơi cùng nhau nữa.

Thật may mắn cho Ted, con vẫn giữ được sự miễn nhiễm ngây thơ trước những khinh khi của xã hội. Những cái nhìn chằm chằm thô lỗ, những lời nhận xét mỉa mai và những hành động kỳ thị như đi xuyên qua con. Dường như con không nhận thấy những ẩn ý thể hiện trên gương mặt và trong giọng nói của người khác. Con không thể nhận ra các kiểu chế nhạo hay những hình thức tinh vi của sự ác nghiệt và chối bỏ. Con cũng không bao giờ cảm thấy ngượng nghịu. Con không thể nhận thấy rằng người khác có thể nhìn ngó và đánh giá con dựa trên dáng vẻ và hành vi của con.

Nhiều ông bố bà mẹ của những trẻ tự kỷ khác cũng có chung vấn đề. Con cái chúng tôi chỉ đơn giản là không nhận thấy cách ứng xử của mình là kỳ dị và thường gây chú ý. Thỉnh thoảng chúng tôi thích thú chia sẻ các câu chuyện về sự thiếu khả năng nhận biết và kiềm chế đáng chú ý của con trai hoặc con gái mình.

Một vài câu chuyện nghe khá vui, ví dụ như việc một cậu thanh niên đã vận dụng quá mức kỹ năng đi vệ sinh. Mẹ cậu kể với chúng tôi về cậu con trai đã trưởng thành bắt buộc phải sử dụng mọi nhà vệ sinh mà cậu tìm thấy. Thói quen đó đã dẫn cậu vào nhà nhiều người lạ và mọi nhà vệ sinh công cộng trên đường đi của cậu. Một ngày nọ, cậu khám phá ra mô hình ống nước xả ở một cửa hàng bán đồ dùng trong khu. “Tôi không bao giờ quên được vẻ mặt của người quản lý cửa hàng”, người mẹ nói.

Sinh nhật 11 tuổi của Ted đã đến và đi cùng với một bữa tiệc yên ả trong nhà. Tất cả các bữa tiệc của chúng tôi phải được thu nhỏ, tránh làm con buồn bực. Không có bạn học hay đứa trẻ nào trong khu đến dự, chỉ có gia đình, riêng biệt và lặng lẽ.

Qua nhiều năm, chúng tôi dần có nhiều điều chỉnh cho các thói quen của Ted. Chúng tôi chọn khách mời một cách kỹ lưỡng, chỉ mời một số ít những người hiểu và chấp nhận cách cư xử của con trai chúng tôi. Các thay đổi trong đời sống xã hội và giải trí của chúng tôi diễn ra khá chậm khiến chúng tôi quen dần với chúng. Nhưng đôi lúc, chúng tôi vẫn không tránh khỏi cảm giác bức xúc, khi chúng tôi nhận ra cách sống của mình rất khác biệt với mọi người trong các gia đình khác và hoàn toàn không phải là những gì chúng tôi mong muốn.

*

Chương 22

Chúng tôi thôi không cố tìm hiểu những nỗi sợ phi lý của con nữa. Con trai chúng tôi không thể giải thích về chúng và chúng tôi đã cạn trí tưởng tượng khi cố phỏng đoán nguyên do. Đơn giản là chúng tôi phải chung sống với những ám ảnh của con thôi.

– Không có đèn giao thông màu xanh dương. Không có đèn giao thông màu xanh dương- Ted lảm nhảm ở phía bên kia của căn phòng khi tôi cố trò chuyện với chủ nhà trong căn phòng chứa đầy đồ cổ.

Đó là một ngày đầy những việc lặt vặt. Sau giờ học, tôi phải đón Nick và Ted rồi chạy vòng vòng qua tiệm giặt khô và hiệu tạp hóa. Trên đường về nhà, tôi ghé qua nhà một người bạn có con trai bị chậm phát triển trí tuệ ở dạng nhẹ. Gia đình của bạn đã cưỡng lại việc chấp nhận các triệu chứng cho tới khi đứa trẻ không thể hoàn tất chương trình học lớp một. Sau khi những buổi học kèm riêng và việc đi học trường tư cũng không cải thiện được chút nào điểm kiểm tra của cậu bé, họ đã đặt chân tới ngã rẽ đau đớn: chấp nhận rằng “khả năng học tập” của cậu bé tệ hơn rất nhiều so với những gì họ muốn tin là sự thật.

Tôi đề nghị người mẹ cho tôi mang đến bản sao bức Thư ngỏ của Hiệp hội dành cho Công dân Chậm phát triển. Khi tôi tới nơi, bà mời tôi vào nhà uống cà-phê. Trong khi chúng tôi nói chuyện, Nick chơi với cậu bé con bà ở phòng sinh hoạt chung. Ted lặng lẽ đi lang thang trong nhà cho đến khi dừng lại ở chỗ chúng tôi trong phòng khách, ngồi gật gù trên một chiếc ghế bọc lụa và lặp đi lặp lại “Không có đèn giao thông màu xanh dương”.

Từ khi làm tình nguyện viên trong các tổ chức của phụ huynh, tôi đã dành nhiều thời gian lắng nghe xem các gia đình khác vật lộn với khuyết tật của con như thế nào rồi giúp họ tìm các nguồn hỗ trợ. Cuộc trò chuyện này có thể tiếp diễn khoảng 1 tiếng đồng hồ nữa, nhưng cũng gần tới giờ ăn tối và Ted có vẻ kích động khác thường. Vì thế tôi xin lỗi và chào tạm biệt.

Khi tôi bắt đầu giúp Ted mặc áo khoác, tôi ngửi thấy một mùi kinh khủng, nhưng tôi không nói gì cho đến khi ra khỏi nhà. Đã biết câu trả lời, tôi vẫn phải hỏi:

– Ted, con ị ra quần rồi phải không?

– Chả biết.

– Để bố xem nào- tôi yêu cầu. May mắn là không thấy vết bẩn nào thấm ra ngoài quần, như vậy chắc là con chưa làm bẩn lớp lụa bọc ghế ngồi- Ted, tại sao con không nói cho bố biết con cần đi vệ sinh?

Dù tôi biết tốt hơn là không hỏi con tại sao, nhưng vì căng thẳng tôi đã phạm phải sai lầm này, nói với con như đang nói với bất kỳ đứa trẻ nào khác.

– Bởi vì con đã đi rồi.

Trông con có vẻ phòng thủ, đôi mắt xanh mở to quay đi tránh mặt tôi. Con không giải thích và sẽ không giải thích. Thỉnh thoảng, tôi không thể biết thái độ từ chối nói chuyện của con chỉ là cơn bướng bỉnh bình thường hay do con không thể nói ra ngay cả những từ ngữ quen thuộc nhất khi bị căng thẳng. Vả lại, tôi biết, tại sao con đã làm chuyện đó. Tôi còn biết được rằng con hiểu tôi đã biết. Quan hệ giữa chúng tôi quá gần gũi đến nỗi chúng tôi có thể giao tiếp không lời còn tốt hơn bằng lời.

Sau bữa tối, tôi kể cho Sara nghe chuyện đã xảy ra. Ted có lẽ đã đi tìm nhà vệ sinh nhưng không vào vì trong đó có tấm màn che bồn tắm. Con sẵn lòng ngồi trong cùng phòng với tôi và ị ra quần thay vì vào phòng vệ sinh. Chúng tôi từng thấy chuyện tương tự xảy ra nhiều lần trước đây. Tuy nhiên, thường thì con sẽ yêu cầu một trong hai chúng tôi đưa con vào phòng vệ sinh. Khi có một vệ sĩ ở đó rồi, con sẽ nôn nóng tiến hành việc đại tiện để nhanh chóng thoát khỏi căn phòng đáng sợ.

Chúng tôi đã thôi không suy xét lý do tại sao tấm màn che trong phòng tắm lại là thứ làm con trai chúng tôi sợ hãi nhất trong tất cả những thứ khác. Đơn giản là chúng tôi chung sống với những nỗi sợ phi lý đó. Sara đã làm những tấm màn từ loại vải không thấm nước đặc biệt cho riêng nhà chúng tôi vì dường như con chịu đựng được chúng tốt hơn loại màn bằng vải nhựa bóng loáng. Chúng tôi dĩ nhiên cũng đi kèm con bất cứ khi nào con muốn dùng nhà vệ sinh công cộng khi ra khỏi nhà. Nhưng dần dần, Sara khó mà đi ra ngoài một mình cùng Ted, vì cô ấy không thể đưa Ted cùng vào phòng vệ sinh nữ được nữa.

Nỗi sợ kỳ quặc này tồn tại trong nhiều năm và chúng tôi không còn để ý đến sự kỳ lạ đó nữa. Chúng tôi gặp gỡ những trẻ em cùng tuổi với Ted và các gia đình hàng xóm ít tới mức, chúng tôi cũng mất luôn ý thức về những điều thông thường.

Tôi và Sara đặc biệt biết ơn sự hỗ trợ của một số ít họ hàng và bạn bè đã cho phép cả hai con chúng tôi tham gia vào các hoạt động của gia đình họ. Vào mùa hè năm 1980, chúng tôi sắp xếp một chuyến đi nghỉ ở biển cùng với cha đỡ đầu của con trai chúng tôi, với vợ và hai con trai của ông nữa. Chúng tôi ở chung trên một căn nhà nằm trên vách đá nhìn xuống Thái Bình Dương và lên kế hoạch thư giãn cùng với 4 cậu bé và những chú chó của họ.

Thoát khỏi mọi cuộc điện thoại và giao thông ở thành phố, khu rừng hoang dã mọc gần bãi biển đầy cát ở Iron Springs có vẻ là khu nghỉ dưỡng hoàn hảo. Tôi và Sara máy móc theo dõi mọi hành vi của Ted, mang theo rất nhiều giấy cho con vẽ và những món đồ chơi nhỏ bằng nhựa mà con thích mang đi khắp nơi. Chúng tôi khám phá ra rằng, Ted là một người nhặt nhạnh sưu tầm đồ biển rất giỏi giang. Thị lực tinh nhạy cho phép con thấy được từng sinh vật nhỏ nhoi rơi rớt lại sau khi thủy triều rút đi.

Một trong số chúng tôi phải luôn ở gần Ted mọi lúc mọi nơi. Khi con cần sử dụng phòng vệ sinh, một trong số chúng tôi luôn luôn đi cùng con. Chúng tôi chọn thực đơn không dính đến những món ăn con sợ và đóng vai trò trọng tài khi có vấn đề nảy sinh giữa Ted và bọn trẻ.

Khi Ted trở nên kích động bởi một cơn sợ hãi phi lý hoặc khăng khăng với một yêu cầu quá đáng, chúng tôi tách con khỏi nhóm cho đến khi con bình tĩnh lại. Các buổi tối, chúng tôi quây quần quanh lò sưởi và trò chuyện rì rầm, tránh những tiếng cười phá lên sau mỗi chuyện vui hoặc trò đùa. Tiếng cười luôn luôn làm Ted la hét, vì thế chúng tôi cố kiểm soát cuộc trò chuyện của mọi người khi ở trong tầm nghe của Ted.

– Tôi không tưởng tượng nổi những gì các bạn phải chung sống- cha đỡ đầu của Ted nói sau hai ngày.

Cảm thấy sự dè dặt trong nhận xét của ông, tôi hỏi thêm ý ông muốn nói gì.

– Tôi không biết làm sao gia đình bạn có thể sống như thế- ông tiếp tục, liệt kê nhiều sự thỏa hiệp và các điều chỉnh cho thích hợp mà chúng tôi đã dần quen với chúng.

Thật sốc khi nghe một người bạn già nói những lời chân thật về Ted. Tôi và Sara đã trải qua nhiều năm cố chú tâm vào mặt tích cực, ăn mừng với từng dấu hiệu tiến bộ dù nhỏ bé thế nào đi nữa, đến nỗi chúng tôi đánh mất luôn ý thức về cuộc sống bình thường. Chúng tôi đã bỏ qua những tổn hại lớn đến cuộc sống gia đình, không nhìn đến cái giá Nick cũng như chúng tôi phải trả. Khi có sự hiện diện của một cặp vợ chồng khác cùng hai con trai, sự tương phản giữa hai gia đình là sự thật hiển nhiên đầy đau đớn.

Tôi mình mắc kẹt giữa các cảm xúc trong vai trò là cha của Ted và ký ức thời thơ ấu khi là người em trai nhỏ của Sumner. Người cha trong tôi muốn chấp nhận mọi hy sinh cần thiết để giúp đỡ đứa con khuyết tật của mình. Nhưng những trải nghiệm khi là em của Sumner khiến tôi đồng cảm với Nick và tôi muốn con cũng có được những cơ hội bình thường để kết bạn và bước vào cuộc sống xã hội, những cơ hội đang ngày càng bị đe dọa nhiều hơn bởi Ted.

*

Chương 23

Liệu độ tuổi vị thành niên có tạo ra một số hành vi mới và không thể kiểm soát?

Từ khi rời bỏ công việc tại bệnh viện, tôi dành thời gian làm việc với các tình nguyện viên khác, cùng phát triển một dự án huấn luyện cho phụ huynh các trẻ em có khiếm khuyết về phát triển như chậm phát triển trí tuệ và tự kỷ. Hai người trong số chúng tôi được thuê để tổ chức các buổi hội thảo hướng dẫn các phụ huynh sử dụng những chương trình dành cho người khuyết tật của bang và của chính phủ.

Thông thường, phụ huynh của các trẻ em khuyết tật sẽ được kết nối với những người nghiên cứu các nhóm hành vi và các nhóm chăm sóc người già. Chúng tôi tổ chức nhiều buổi hội thảo trong các thành phố và các thị trấn nhỏ, trong tầng hầm nhà thờ, hội trường trường học, hoặc bất cứ hội trường công cộng nào cho phép sử dụng địa điểm hội họp miễn phí.

Tôi và cộng sự tin rằng, nhu cầu tình cảm của các bậc cha mẹ này cũng lớn không kém gì nhu cầu có thêm các thông tin thực tế, vì vậy, chúng tôi sắp xếp những khoảng thời gian mọi người có thể chia thành nhóm nhỏ và chia sẻ cảm xúc. Nhiều người thấy đau đớn khi thảo luận về những mối lo của mình, ngay cả với gia đình của họ. Nhưng trong hoàn cảnh được bao bọc bởi những ông bố bà mẹ cùng xoay sở với các vấn đề tương tự, nhiều người lại có thể nói chuyện cởi mở và thành thật.

Chúng tôi cố biến các buổi hội thảo thành một trải nghiệm tích cực. Các ông bố bà mẹ này cần nhiều hy vọng hơn trong cuộc sống, họ cần có cảm xúc tích cực về những đứa con khuyết tật và cảm nhận tốt về bản thân mình trong khi chiến đấu chống lại thái độ của xã hội – thường có khuynh hướng đánh giá thấp những người có khiếm khuyết và cha mẹ của họ.

Thỉnh thoảng, các phụ huynh chia sẻ câu chuyện về chiến thắng riêng khi giúp con vượt qua được nhiều giới hạn mà các bác sĩ hoặc giáo viên đã tiên đoán. Chúng tôi thường được nghe những câu chuyện ấm lòng về sự tốt bụng bất ngờ của một số người lạ. Nhưng chúng tôi cũng nghe cả về nỗi oán giận cái gánh nặng không thể trút bỏ khi phải bảo vệ một thành viên bị khuyết tật trong gia đình.

Trong một cộng đồng nhỏ vùng nông thôn, tôi được nghe một câu chuyện về nỗi khổ tâm trong gia đình mà tôi không bao giờ quên được nó. Một phụ nữ lớn tuổi tham gia buổi hội thảo, với hy vọng tìm kiếm sự giúp đỡ dành cho người em trai bị tự kỷ. Bà có mái tóc bạc trắng được cắt qua loa tại nhà và mặc trang phục giản dị của người nghèo vùng quê. Không lập gia đình, bà chia sẻ trách nhiệm chăm sóc em trai từ khi còn là một cô bé. Trong khi bà nói chuyện, người em ngồi yên lặng, vô cảm bên cạnh bà, một người đàn ông được chăm chút gọn ghẽ ở độ tuổi 70. Sau khi bố mẹ mất cùng sự cố uống thuốc quá liều của em tại dưỡng trí viện, người chị đã đưa em trai về nhà để bảo bọc trong suốt quãng đời còn lại.

– Thỉnh thoảng, tôi thấy ghen tị với mẹ.- bà nói với chúng tôi- Dẫu sao thì bà cũng có thể sống một cuộc sống bình thường trước khi em tôi ra đời. Còn tôi, cả cuộc đời này, tôi phải sống chung với những vấn đề của em mình.

Căn phòng trở nên yên ắng. Mọi người hoặc bối rối vì sự thành thật của bà, hoặc cảm thấy không thoải mái khi biết rằng bà đang phát biểu giùm cho những người con trai hoặc con gái khác của họ.

– Khi mẹ không còn chăm sóc em như một đứa trẻ nữa- bà nói thêm- tôi đã lo lắng rằng chẳng chóng thì chầy tôi sẽ phải gánh vác mọi thứ. Tôi chưa bao giờ có được một tuổi thơ bình thường hoặc một cơ hội hẹn hò như những thiếu nữ khác.

Những lời nói của bà ám ảnh tôi. Bà đã nói ra sự thật giản đơn mà tôi không muốn đối mặt. Không ai đáng phải chịu đựng một tuổi thơ như của tôi hoặc của bà. Dù tôi và Sara có thể giúp Ted phát triển vượt xa Sumner, chúng tôi đã không thể cho Nick cũng như chính bản thân chúng tôi chất lượng cuộc sống mà chúng tôi cần. Bằng cách này hay cách khác, trong quá trình chiến đấu cho đứa con khuyết tật, những người còn lại trong chúng tôi đã phải trả cái giá quá đắt.

Nhiều năm trước, bác sĩ của Ted đã nói chuyện với chúng tôi. Ông khuyên nhủ chúng tôi bởi ông tin rằng cả Ted lẫn gia đình đều sẽ không được lợi gì khi tiếp tục sống cùng nhau. Chúng tôi trân trọng đề nghị của bác sĩ và quan điểm chuyên môn khách quan của ông. Tôi và Sara không còn tin vào đánh giá của chính mình khi phải đưa ra những quyết định về tương lai của Ted. Kỳ lạ là tình trạng tiến thoái lưỡng nan của chúng tôi giống y hệt vấn đề của Ted khi học về các con số. Con có thể nhắc lại các con số để đếm, nhưng không thể hiểu tí nào về giá trị của chúng, ngay cả sự khác nhau giữa “nhiều” và “ít”. Cả chúng tôi cũng mất nhận thức về tỉ lệ và không thể đánh giá xem các cố gắng của chúng tôi là đủ, quá nhiều, hay quá ít.

Dù chúng tôi có làm gì cho Ted như một gia đình đi nữa, con luôn luôn cần nhiều hơn. Chúng tôi đã thấy những gia đình phải chịu đựng nhiều hơn mức chúng tôi có thể tưởng tượng, có những gia đình tiếp tục bảo bọc cho những trẻ vị thành niên bỗng trở nên quá bạo lực khiến ngôi nhà của họ trông như vùng chiến sự. Một vài gia đình phải đóng ván gỗ lên cửa sổ để ngăn con khỏi đập vỡ kính. Một gia đình còn phải thay hết vật dụng trong phòng khách và phòng ăn bằng những chiếc bàn và ghế thô sơ đóng bằng gỗ đỏ nặng nề. Đó là loại bàn ghế duy nhất có thể chịu đựng được sự bạo hành của một người đàn ông tự kỷ trưởng thành.

Chúng tôi sống trong nỗi sợ về tương lai, lo lắng rằng tuổi vị thành viên sẽ tạo ra những thay đổi về tính cách trong Ted. Khi con cao lớn hơn mẹ và khỏe mạnh hơn tôi, con có thể phát hiện ra hiệu lực của sức mạnh cơ bắp và kiểm soát cả gia đình thay vì chỉ rên rỉ hoặc la hét khi chúng tôi không thể đáp ứng một yêu cầu phi lý.

Tuy nhiên, dù cách sống của một số gia đình khác làm chúng tôi sợ hãi, chúng tôi kính phục sự tận tụy của họ khi làm những điều họ nghĩ là tốt nhất cho con mình, những đứa trẻ có khuyết tật còn nặng hơn Ted. Đưa Ted ra khỏi gia đình chúng tôi đơn thuần vì sự thoải mái của những người còn lại nghe như một việc làm sai trái không thể tha thứ được và không có đạo đức. Làm sao chúng tôi có thể sống với lương tâm của mình nếu chúng tôi hy sinh thành viên yếu nhất, dễ bị tổn thương nhất trong gia đình vì lợi ích của chúng tôi, những người được tự nhiên ưu đãi nhiều hơn?

Hy vọng duy nhất để giải quyết cuộc đấu tranh của lương tâm này là tìm một nơi có thể mang lại cho Ted nhiều thuận lợi hơn là ngôi nhà của gia đình. Không ai có thể cho con nhiều tình yêu và sự thông hiểu hơn cha mẹ. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ các chương trình nhà ở dành cho người khuyết tật được quản lý tốt có thể cung cấp cho con thứ gì đó mà chúng tôi không thể, một môi trường học tập và sinh sống được tổ chức kỹ càng và hệ thống hơn.

Vẫn chưa thể quyết định được, chúng tôi bắt đầu đi tìm các khu nhà dành cho người khuyết tật ở Seattle. Cuối cùng, chúng tôi tìm được Khu nhà ở Parkview dành cho Trẻ em đặc biệt. Khu nhà thành lập vài năm trước đây bởi các phụ huynh khác, những người đã thuê được Bette Detels, một giám đốc có nhiều sáng kiến. Vì chương trình tài trợ của bang và chính phủ chỉ chi trả cho các chăm sóc và giám hộ cơ bản, Betty đã tìm đến các quỹ tư nhân để có thêm nguồn tài trợ nhằm phát triển và đào tạo nhân viên, thiết lập chương trình điều chỉnh hành vi cho mỗi cư dân trong khu.

Chúng tôi thích những gì mình thấy ở Parkview. Hai tòa nhà để ở rộng rãi xây bằng gạch được nối với nhau bởi khu hành chính văn phòng, nằm trong khu vực dân cư sang trọng. Mỗi chái nhà có thể phục vụ cho 6 đứa trẻ với phòng ngủ riêng cho tất cả cũng như có những căn phòng lớn để nấu nướng, ăn uống và giải trí.

Điều tuyệt nhất là, mỗi trẻ em hoặc trẻ vị thành niên đều có một chương trình huấn luyện riêng với các mục tiêu cụ thể cho từng kỹ năng để biến cậu bé hoặc cô bé đó trở nên độc lập hơn và có thể làm việc trong cộng đồng. Một số bạn nhỏ vẫn đang vật lộn với các kỹ năng vệ sinh cơ bản. Một số khác tiến bộ tới mức có thể nhận trách nhiệm nấu ăn, giặt giũ và dọn dẹp chung trong nhà. Nhiều trẻ có chương trình đặc biệt để học các kỹ năng xã hội, giao tiếp, hoặc kiểm soát các hành vi có vấn đề. Một tấm bảng lớn trên tường trong bếp ghi lại mục tiêu cá nhân của từng trẻ, chẳng hạn như “đánh răng”, “hút bụi phòng khách”, “tập đi xe buýt”, hoặc đơn giản chỉ là “không cắn nữa”. Các thành viên mới của khu sẽ được thưởng hoặc tặng điểm hàng ngày cho mỗi công việc thành công hoặc khoảng thời gian tự chủ được.
Khi bọn trẻ chứng tỏ các bước tiến bộ, các mục tiêu sẽ được nâng cao và mục tiêu mới được ghi thêm vào bảng. Dần dần các nhân viên giúp trẻ từ bỏ việc nhận thưởng hàng ngày cho mỗi hành vi tốt, chuyển sang hệ thống thương lượng, tạo cơ hội để chọn một trong nhiều khả năng hoặc thỏa thuận theo hướng có lợi. Khi trẻ lớn lên và cho thấy có đủ tiềm năng, cậu bé hoặc cô bé đó sẽ được dạy một loạt các kỹ năng sinh tồn, bao gồm đi mua hàng, đi lại một mình bằng xe buýt, cả sử dụng ngân hàng và lập kế hoạch chi tiêu nữa.

Dường như các nhân viên trẻ tuổi, năng động và tận tâm ở Parkview có thể làm được nhiều điều cho Ted hơn tôi và Sara trong thời điểm này của cuộc đời. Chúng tôi muốn tin rằng sẽ có lợi hơn cho Ted khi sống ở đó, nhưng cảm giác tội lỗi vẫn tiếp tục ám ảnh suy nghĩ của chúng tôi.

Chúng tôi cố gắng so sánh những điểm tích cực và tiêu cực Ted sẽ nhận được khi sống trong môi trường được tổ chức chặt chẽ đó. Nick có thể mời bạn đến nhà chơi sau giờ học hoặc ngủ lại mà không bị ảnh hưởng bởi những cơn thịnh độ và trò phá đám kỳ quặc của Ted. Tôi và Sara có thể đi ra ngoài cùng nhau thay vì phải luôn ở đâu đó gần nhà vì hiếm có người giữ trẻ nào chịu trông và có thể ở cùng Ted.

Các thay đổi trong cuộc sống của chúng tôi rõ ràng là tích cực. Tôi có thể rũ bỏ sự căng thẳng hàng ngày khi đóng vai người chăm sóc chính cho Ted, người phiên dịch giữa con và thế giới, và tôi có thể bảo vệ Nick khỏi những trách nhiệm kinh khủng tôi tự gánh lấy đối với người anh trai tự kỷ của mình. Tôi muốn những thay đổi đó, nhưng tôi thấy ghét mình khi quá quan tâm tới cảm xúc riêng như thế.

Gửi Ted đến Parkview có nghĩa là thực hiện điều không thể tưởng tượng được, đi ngược lại với ý thức trách nhiệm mà tôi đã gánh vác từ khi còn là một đứa trẻ, một trách nhiệm từng được nhắc tới trong những lời nói cuối cùng cha dành cho tôi. Tôi mừng là mẹ không còn sống để chứng kiến quyết định này. Tôi nghĩ rằng gửi Sumner và chính đứa con của mình đến một nơi khác cho người ta chăm sóc là thật sự tội lỗi.

Chúng tôi sắp xếp để Ted trải qua một dịp cuối tuần ở Parkview. Vì con đã từng chuẩn bị cho những chuyến cắm trại qua đêm, con thích ứng có vẻ dễ dàng. Tôi muốn nói chuyện với con về cảm xúc của mình, nhưng tôi biết rằng sự hiểu biết của con cũng hạn chế như dũng khí của mình vậy. Điều duy nhất tôi có thể làm là nói:

– Ted à, một số bạn sống ở Parkview luôn đấy. Các bạn ở đây cả tuần và xe buýt của trường sẽ đưa bạn tới trường rồi về nhà. Cuối tuần, các bạn sẽ đi chơi, thăm sở thú và các nơi khác nữa.

Con lặp lại:

– Một số bạn sống ở đó luôn.

Ted có vẻ quá bình tĩnh và điềm nhiên. Tôi muốn coi đó là dấu hiệu chấp thuận. Nhớ lại cách khiến Sumner luôn nói những gì tôi muốn một cách dễ dàng, tôi sử dụng kỹ thuật đó với Ted:

– Có phải con đã có thời gian vui vẻ ở Parkview không?- Tôi nhấn vào lợi thế của mình và đợi con rơi vào cái bẫy bằng lời nói đó.

– Có.

– Có phải con muốn sống ở Parkview toàn thời gian giống như các bạn khác không?- Tôi tiếp tục, hy vọng con sẽ cho tôi câu trả lời dễ dàng.

– Có.

Tôi biết rằng Ted không thể hiểu hết “toàn thời gian” có nghĩa là gì. Không ai có thể xác định con hiểu hay cảm giác được đến đâu. Tuy nhiên, thái độ thụ động của con khiến mọi việc dễ dàng hơn cho tôi. Tôi giúp con lên kế hoạch cho sự thay đổi lớn lao này, chọn các vật dụng con ưa thích trong nhà để mang theo, và cho con chọn màu sơn cho căn phòng mới.

*

Chương 24

Trực giác thông thường của Ted không làm việc. Bệnh tự kỷ cản trở không cho con hiểu được những điều hiển nhiên. Trực giác mách bảo chúng ta đưa ra những kết luận “hiển nhiên” nhưng dường như lại không phải là điều hiển nhiên với con.

Ngày 2/7/1982, một ngày khắc sâu trong ký ức của tôi, ngày Ted chuyển đến nơi ở mới khi tròn 11 tuổi, 7 tháng và 7 ngày.

Con tỏ ra thích ứng nhanh và rất hòa thuận trên suốt chuyến đi đến Parkview. Dấu hiệu duy nhất làm con không vui là những mảng tường sơn lỗ chỗ trong căn phòng mới của con mà con cứ âm thầm cào lên những vết sơn đó.

Chúng tôi rất nhớ Ted. Chúng tôi nhớ những câu nói vu vơ vô nghĩa mà con hay gào lên, như “ bé yêu, những miếng thịt của chú hà mã”, “tôi sẽ phá những chú chồn của bạn”, và “những chú chó Đức màu tím”. Mặc dù thật là phiền toái khi cứ liên tục bị phải nghe những câu nói đó, nhưng nó dường như đã trở thành một phần giai điệu cuộc sống của chúng tôi, lâu tới mức căn nhà giờ trở nên im ắng một cách lạ thường khi vắng con. Nhân viên ở đó đã yêu cầu chúng tôi không nên đón con về nhà liền một tháng để con có thể làm quen với nơi ở mới. Điều đó thật khó khăn, nhưng chúng tôi buộc phải tuân thủ.

Cuối cùng thì chúng tôi đã học cách cười lại. Mỗi khi có điều gì thú vị xảy ra, theo thói quen, chúng tôi lại gập vai xuống, chờ đợi một tiếng hét nhưng chẳng có tiếng hét nào nữa. Dần dần, chúng tôi trở lại nhịp sống giống như những người bình thường khác.

Sau tháng đầu tiên, mỗi tháng, Ted được phép về nhà ít nhất 2 ngày cuối tuần. Vào các kỳ nghỉ ở trường và các chuyến du lịch, Ted cũng tham gia cùng gia đình. Và cứ 1-2 lần trong tháng, cả nhà chúng tôi lại đi ăn tối cùng nhau. Chúng tôi luôn trông đợi thời điểm cả nhà sum vầy, nó giống như một tuần trăng mật dành cho cả gia đình.

Các chuyến thăm nhà của Ted đều rất vui vẻ bởi vì chúng tôi biết rằng thời gian bên nhau thật ngắn ngủi. Anh em chúng cũng hòa hợp hơn trước kia, khi thế giới của chúng luôn bị xâm phạm. Và cũng dễ dàng hơn để lên kế hoạch chi tiết cho các hoạt động vào buổi tối hoặc cuối tuần, trong khi chúng tôi trước kia không thể điều khiển được cuộc sống hàng ngày.

Con trai chúng tôi đang dần lớn lên và mặc dù chúng tôi không dõi theo con hàng ngày, con vẫn khiến chung tôi luôn bất ngờ về con. Một ngày chủ nhật, khi tôi đang lái xe từ nhà sau khi mua sắm, tôi nghe thấy con bi bô không ngừng, to hơn cả tiếng radio của ô tô:

– San hô có thể đỏ, và san hô có thể hồng, và san hô có thể trắng, và san hô có thể vàng, và san hô có thể xanh lá cầy, và san hô có thể xanh da trời ….

Nếu là trước kia, tôi sẽ lờ đi, coi đó là những câu độc thoại vô nghĩa và không buồn khích lệ, nhưng giờ thì tôi xem đó là cơ hội để tôi có thể hiểu con nhiều hơn.

– Không, Ted. San hô có thể đỏ, cam, hồng, trắng hoặc đen, nhưng bố không nghĩ rằng san hô có thể có tất cả các màu sắc khác.

Con giữ yên lặng một lát, lấy một con thằn lằn ra khỏi túi quần. Sau đó, con lại bắt đầu la hét trở lại.

– San hô có thể vàng, và san hô có thể xanh lá cây, và san hô có thể xanh da trời …

Khi con tiếp tục, tôi chỉ còn biết vặn to tiếng của radio và để mặc con. Chúng tôi về nhà sớm và tôi đi lên tầng trên thay quần áo. Vài phút sau, Ted chạy lên cầu thang.

Con giở phần “C” của cuốn Bách khoa toàn thư thế giới. Con nói to hơn và trong giọng nói tôi cảm nhận được sự vui mừng trong đó:

– San hô có thể vàng, và san hô có thể xanh lá cây, và san hô có thể …

– Để bố xem nào, Ted. Chỉ cho bố xem nó ở đâu nào.

– Đây này!- con tỏ ra rất hân hoan, tay cầm trong tay cuốn sách ở góc mà tôi chẳng thể nào đọc được.

Con vẫn không hiểu là tôi không thể đọc được ý nghĩ của con cũng như nhìn thấy những thứ con có thể nhìn được trừ khi nó nằm cùng hướng với tôi. Tôi lấy quyển sách và bắt đầu đọc đoạn viết về san hô, và san hô có các màu đỏ, hồng, trắng, đen, vàng, xanh lá và xanh da trời!

– Con đúng rồi, Ted- Tôi thừa nhận- Cảm ơn con vì đã cho bố biết.

Tôi ngạc nhiên. Cuối cùng thì bao nhiêu năm trả lời các câu hỏi của con và hướng dẫn con biết tra từ điển khi chúng tôi muốn tìm hiểu về cá voi, cá mập và khủng long đã được trả công xứng đáng. Con tôi, một đứa trẻ tự kỷ, đã phải học cách làm thế nào nhiều hơn là ghi nhớ việc thực tế, con biết tự mình tìm hiểu và tìm được niềm vui khi làm việc đó. Sara và tôi không bao giờ dám mơ là Ted sẽ hiểu được cuốn sách viết gì và biết vui mừng khi đưa ra được đáp án đúng.

Con thích các quyển sách với những đoạn miêu tả ngắn chân thực về thực tế cuộc sống. Còn thì con vẫn thấy hầu hết các chương trình truyền hình thật tẻ nhạt và khó hiểu. Con cũng không hiểu được những mẩu truyện đơn giản. Bất cứ khi nào ngôn ngữ quá phức tạp hoặc tính cách nhân vật quá đa chiều, con đều không hiểu. Nhưng một cuốn từ điển, một cuốn sách hướng dẫn hoặc một cuốn bách khoa toàn thư, với những giải thích và miêu tả trực quan, thì con có thể hiểu được.

Chúng tôi mua tặng con cuốn bách khoa toàn thư nhân dịp Giáng Sinh. Và kể từ đó, bất cứ khi nào thấy Ted, con lại đem đến cho chúng tôi một thông tin mới. Con nói cho chúng tôi biết loại rắn nào thuộc họ rắn lục. Chúng tôi cũng học được là ngựa, ngựa vằn và lừa được gọi là “loài một móng guốc”, trong khi heo vòi là “loài bảy móng guốc”.

Ở trường, con học được từ trái nghĩa. Con rất thích khám phá những từ quen thuộc và những từ trái nghĩa với nó. Khi về thăm nhà, con ngồi hàng giờ hỏi tôi từ trái nghĩa của những từ mà con thích. Con tỏ ra có năng khiếu về ngôn ngữ, biết cách ghép các cặp từ cho dễ ghi nhớ chứ không chỉ học vẹt bằng cách lặp lại nhiều lần mà không hiểu quy tắc phát âm.

Sau khi biết được từ trái nghĩa của một số tính từ như “to”, “tối”, “tốt” và “ngọt”, con chuyển sang khám phá các màu sắc đối lập. Con bắt tôi liên tục trả lời các câu hỏi :“Trái nghĩa với vàng là gì?” hoặc “Trái nghĩa với xanh lục là gì?” Con băn khoăn khi tôi không thể trả lời con từ trái nghĩa của “mỳ Ý”” hay “gỗ”.
Khi đã đọc đi đọc lại cuốn sách nhiều lần, con chuyển sang nghiên cứu những bài viết về đặc tính sinh học của động vật và nhóm động vật. Con cứ nghĩ là đang giảng cho tôi. Và thực tế đúng là như vậy. Dưới cách hiểu trong trẻo về thế giới phức tạp của hàng triệu những điều thực tế và chi tiết, con cho tôi thấy cách xử lý suy nghĩ đáng ngạc nhiên của con, cách suy nghĩ mà Sumner chưa bao giờ có.

Với những ngôn ngữ đơn giản và có kết cấu sử dụng chặt chẽ, con rất giỏi. Tuy nhiên, con vẫn chưa hiểu được các cấu trúc ngữ pháp phức tạp, câu văn dài và những từ với nghĩa mơ hồ hoặc nghĩa bóng.
Trong một bữa tiệc sinh nhật, Nick bỏ dở đĩa bánh và nói:

– Bánh này béo quá, con ăn không được.

Ted nhìn vào chỗ bơ và hạnh nhân mà Nick cào ra khỏi chiếc bánh với ánh mắt đầy băn khoăn, hỏi:

“Nghĩa là sao?”

Bực mình vì anh trai không hiểu, Nick đáp lại:

– Nó quá béo chứ sao.

Nhìn mặt Ted, tôi biết tôi phải giải thích cho con.

– Ted, khi một ai nói món ăn “béo”, nó không có nghĩa là món ăn đó to lớn hay mập mạp. “Béo” ở đây có một nghĩa khác là thức ăn sử dụng quá nhiều bơ hoặc đường. Nếu người ta thấy món ăn đó nhiều bơ, họ có thể nói món đó quá “béo”.

Sau đó, tôi phải giải thích tiếp là thức ăn không có bơ hoặc đường thì được gọi là “không béo”, và đó là từ trái nghĩa của “thức ăn nhiều chất béo”.

Ted không hiểu là những từ khác nhau sẽ có chức năng khác nhau trong ngôn ngữ, và hầu hết các từ đều không phải chỉ có một nghĩa cố định duy nhất trong mọi tình huống. Thậm chí, ngay cả những danh từ như “ bố” phải phụ thuộc vào các tính từ đi kèm để định nghĩa. Nếu định nghĩa “bố” có nghĩa là đàn ông, người góp phần sinh ra đứa trẻ, vậy tôi sẽ phải giải thích cho Ted từ trái nghĩa với “bố” là gì đây? Là “mẹ” hay là người đàn ông nhưng chưa có gia đình, con cái? Hay tôi nên nói với con từ trái nghĩa với bố là “không phải bố”? Cố gắng để trả lời tất cả, tất cả các câu hỏi của Ted đôi khi làm đầu óc chúng tôi như muốn nổ tung.

13 tuổi, Ted vẫn chỉ có những kỹ năng ngôn ngữ và hành vi xã hội như của một đứa trẻ lên 3. Trong khi chúng tôi luôn đánh giá cao những tiến bộ của con và muốn khích lệ con cố gắng, nhưng thật khó khăn để phải lắng nghe một chuỗi các câu hỏi liên tục mà không thể nào phát triển thành một đoạn hội thoại có ý nghĩa.

Khi Ted về thăm nhà, gặp Nick, Ted sẽ hỏi Nick một loạt các câu hỏi đai loại như:

– Em có thích ZZ Top không? Em có thích Led Zeppelin không? (tên của các nhóm nhạc rock nổi tiếng rất hấp dẫn Ted).

Ted không tỏ vẻ gì là thích các nhạc sỹ khác, mà cứ liên tục hỏi Nick những câu hỏi mà Ted thích. Những câu hỏi đó chẳng thể phát triển tiếp tục và Ted cũng không thể duy trì cuộc trao đổi. Con không có đủ vốn ngôn ngữ phong phú đa dạng và khả năng giao tiếp trên mức sơ khai.

Khi Nick mệt mỏi bởi nghe Ted hỏi các câu hỏi tương tự 14-15 lần, Nick bắt đầu nói: “Em đã trả lời rồi còn gì” hay “Để em yên, em không muốn trả lời thêm bất cứ câu hỏi nào nữa”. Ted cảm nhận được mình đang bị từ chối, thể hiện sự giận dữ bằng cách rên rỉ hoặc la hét những câu vô nghĩa như: “Chó giống Đức màu tím, chó giống Đức màu tím”.

Mỗi khi bị kích động, con sẽ la hét hoặc cắn tay mình, một thói quen con bắt chước từ các học sinh khác ở trường hoặc từ những người sống ở Parkview. Chúng tôi sống mà luôn thấp thỏm Ted sẽ lại học những thói quen kỳ quái hoặc nguy hiểm khác từ các bạn cùng lớp.

May mắn thay, Ted chưa có dấu hiệu nào của sự bạo lực. Ngay cả những thói quen mang tính phá hoại trước kia như xé sách hay làm hỏng băng cassette vẫn tiếp tục diễn ra nhưng không thể nói đó là những hành vi phá hoại có chủ đích. Tuy nhiên, Hiệp hội do chúng tôi lập ra- nơi tập hợp rất nhiều những ông bố, bà mẹ của trẻ tự kỷ, đã giúp chúng tôi nhận thức được nguy cơ của các hành vi bạo lực nguy hiểm sẽ bộc phát ở những đứa trẻ khi chúng bất mãn cao độ.

Rõ ràng là con không có được khả năng tư duy hợp lý, điều giúp con phân tích được những hậu quả trong hành vi của mình, xem chúng có hại cho ai không hoặc làm cho ai đó phật lòng hay không. Khi con lớn lên và cơ thể con cao to hơn, vấn đề rắc rối sẽ càng nhiều hơn và nghiêm trọng hơn. Khả năng ngôn ngữ và nhận định của con sẽ không theo kịp với sự phát triển về mặt thể chất.

Chúng tôi đã thất bại trong việc dạy Ted, nhưng chúng tôi hi vọng các nhân viên tại Parkview, với cách tiếp cận có hệ thống trong việc dạy trẻ khuyết tật, có thể giúp Ted tiến bộ hơn. Chúng tôi rất vui khi biết, họ còn dạy con biết cách dọn phòng, hút bụi và thậm chí giặt đồ. Đương nhiên là ngay cả những bậc phụ huynh có kinh nghiệm tại Parkview cũng đôi lúc đánh giá thấp năng lực của Ted.

Một chiều thứ sáu, Sara lái xe đến Parkview đón Ted về nghỉ cuối tuần với gia đình. Con vẫn chưa chuẩn bị hành lý, do vậy Sara đã đề nghị giúp đỡ con. Khi con lấy vali ra và mở ngăn kéo để lấy quần áo, Sara bắt đầu thấy rất lạ.

– Ted, có chuyện gì với quần áo của con vậy?- Sara hỏi.

– Con không biết- con nói, và kéo những chiếc quần bò ẩm ra khỏi ngăn kéo.

– Để mẹ xem nào- Sara nhắc lại. Sara tiếp tục kiểm tra những chiếc quần khác trong tủ .

Tất cả những chiếc quần trong ngăn kéo đều ẩm, vặn xoắn, thậm chí ướt sũng như thể nó vừa mới được lấy ra khỏi máy giặt. Sara mở các ngăn kéo khác và toàn bộ áo sơmi, tất và đồ lót của Ted cũng trong tình trạng tương tự.

– Chuyện gì vậy, Ted?- Sara hỏi, khi con tiếp tục lấy những chiếc áo ưa thích từ tủ quần áo.

– Con không biết.

– Quần áo của con ẩm hết cả rồi. Con không thấy à?- Sara đã cố để không tiếp tục đưa ra câu ra câu hỏi tại sao để con dễ hiểu hơn- Ai đã làm những bộ quần áo này ướt thế?

– Ai đó đã làm cho những bộ quần áo này ướt.

– Ai làm cho quần áo của con ướt?- Sara đoán là ai đó trong số những người sống ở đây đã chơi xấu con trai mình.

– Con không biết.

Không thể khai thác thêm thông tin từ Ted, Sara đã đề nghị phụ huynh ở đây giúp đỡ. Và bí mật dần dần đã được giải đáp. Họ đã mất vài tuần để dạy Ted cách giặt đồ, sau đó giảm dần sự giám sát khi con đã nhớ được toàn bộ các hướng dẫn và chứng tỏ rằng con có thể tự làm một mình.

Bảng phân tích nhiệm vụ cần làm chỉ ra tất cả các bước cần thiết mà một người cần tiến hành. Tuy nhiên, nó lại không bao gồm việc đảm bảo là máy móc có trục trặc hay không. Ngày mà Ted giặt đồ không cần có người giám sát, máy sấy đã bị hỏng.

Không quan tâm đến thay đổi này, con đã làm theo tất cả những hướng dẫn mà con nhớ được. Khi nút chức năng trên máy sấy phát ra tín hiệu máy hỏng, con vẫn ngoan ngoãn lấy toàn bộ đống quần áo sũng nước và gấp cho vào ngăn kéo.

Không ai có thể biết mà tính đến khả năng này. Không ai nghĩ ra là con cần phải được “lập trình” để kiểm tra quần áo trong máy sấy xem nó đã khô chưa. Đối với những nhân viên ở đây, điều này được coi là bước hiển nhiên và không ai nghĩ đến khả năng Ted lại không biết những điều cơ bản như vậy.

Trực giác thông thường sẽ nói cho Ted biết là có điều gì đó không ổn. Nhưng chứng tự kỷ đã cản trở sự phát triển trực giác thông thường hoặc đã cản trở con hiểu được những điều hiển nhiên. Dù con có khả năng ghi nhớ các quy tắc và xử lý các hướng dẫn, con vẫn không thể đưa ra những phán đoán, nhận định đơn giản. Quần áo còn ẩm cũng không làm con biết mà thay đổi quy trình. Đó là điều hiển nhiên với chúng ta, nhưng lại hoàn toàn không thế với con. Chính xác hơn, trực giác mách bảo tất cả chúng ta đưa ra những kết luận “hiển nhiên” phải thế, nhưng lại không “hiển nhiên” với con.

Con vẫn chưa nhận thức được những nguy hiểm khi tham gia giao thông. Ngoan ngoãn và thận trọng tuân theo các hướng dẫn, con luôn tuân thủ các tín hiệu đèn giao thông khi băng ngang qua đường. Tuy nhiên, tại những chỗ giao mà không có những tín hiệu đỏ, xanh và vàng quen thuộc, con lại quên mất việc quan sát những chiếc xe ô tô đang lao đến mà cứ thể đi thẳng vào dòng xe đang chuyển động.

*

Chương 25

Ted có thể đọc ngược, đọc từ sau, đọc ngang, hoặc đọc các hình ảnh phản chiếu qua gương. Liệu đó có phải một món quà của thượng đế? Hay điều đó chỉ có nghĩa là thế giới của con không có một phương hướng cố định, rằng vị trí của các vật thể được xác định một cách ngẫu nhiên, không đoán định được trước, thậm chí quay tròn?

Tôi đã quan sát sự phát triển của Ted gần 14 năm nay và hơn 30 năm chứng kiến những hành vi của anh trai tôi. Cả hai đều có những khả năng đặc biệt khiến tôi bất ngờ và không sao lý giải được. Tại sao cùng là một con người mà lúc thì họ rất xuất sắc, lúc lại chẳng có một chút hi vọng về năng lực gì thế này?
Tất cả những điều tôi từng nghe hay từng đọc không giúp tôi lý giải được những mâu thuẫn này. Leo Kanner, bác sỹ phát hiện ra chứng bệnh tự kỷ, cũng không có câu trả lời, mà chỉ đơn thuần đưa ra một danh sách những tính cách kỳ lạ mà ông quan sát được. Tôi muốn biết nhiều hơn, muốn hiểu được “tại sao”, câu hỏi mà Ted không bao giờ có thể trả lời cho tôi.

Sara và tôi vẫn nuôi hi vọng khám phá ra những bí ẩn trong cách suy nghĩ của con trai chúng tôi. Chính xác hơn, chúng tôi muốn tìm hiểu tại sao con lại dừng việc xử lý suy nghĩ trong những thời điểm quan trọng. Tương lai của Ted phụ thuộc vào việc chúng tôi có giải mã được bí ẩn này hay không.

Chúng tôi đã hi vọng, khả năng ngôn ngữ của Ted sẽ phát triển tốt hơn, giúp con biết cầu viện tới sự giúp đỡ khi cần, hay có thể giao tiếp với những người xung quanh. Nhưng việc tỏ ra thích thú với nhưng câu nói lặp đi lặp lại hay có những hành động không ý nghĩa đã chỉ ra rằng con khó có thể phát triển tiến bộ hơn Sumner. Sumner đã không thể hiện được cho người khác biết là anh muốn gì.

Để đối phó với áp lực, Sumner từng bôi bẩn phân của anh khắp nơi hòng chống lại người chăm sóc và trốn thoát khỏi nhà. Liệu có một ngày nào Ted cũng từ bỏ những câu nói vô nghĩa của mình và thay vào đó là những hành động nguy hiểm, bạo lực như rất nhiều những người trưởng thành mắc bệnh tự kỷ khác?
Sumner từng cho thấy, dù anh không biết chữ, nhưng anh vẫn có thể phân tích hệ thống đường cao tốc và đường nước phức tạp để tìm đường trở về Seattle. Không biết Ted có những khả năng tương tự? Nếu có, liệu con có thể sử dụng các khả năng đó vào các việc hữu ích như làm việc hay sống độc lập không?
Không ít điều kỳ diệu ẩn chứa trong hình hài của người tự kỷ đã trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà văn, khơi dậy sự tò mò của các chuyên gia hơn 40 năm qua. Sự bất ổn trong rối loạn chức năng buộc chúng tôi phải nhanh chóng tìm ra biện pháp. Con trở thành một nhiệm vụ mà cả Sara và tôi đều không hề mong muốn. Chúng tôi phải hiểu con trai chúng tôi để có thể tìm cho con một chỗ trong thế giới rộng lớn này.

Bất cứ khi nào chúng tôi tưởng rằng chúng tôi đã hiểu Ted thì con lại đột ngột mang đến cho chúng tôi một bất ngờ khác. Chúng tôi không thể đoán trước là chúng tôi lại khám phá ra điều gì mới ở Ted mỗi khi con về thăm nhà.

– Những giờ mới tại Vườn thú dành cho trẻ.

Tôi nhìn Ted, đang ngồi phía bên kia bàn ăn sáng, và hỏi:

– Con vừa nói gì thế?

– Những giờ mới tại Vườn thú dành cho trẻ. Nó có nghĩa là gì ạ?

Tôi nhìn theo ánh mắt chăm chú của Ted vào tờ báo gấp trước mặt tôi. Liếc qua, tôi phát hiện ra một mẩu tin nhỏ mà Ted vừa đọc to lên. Sao Ted lai có thể đọc được nhỉ? Tờ báo đặt hướng về phía tôi và ngược chiều với Ted. Con đã đọc ngược chiều như vậy, hay là con đã phát hiện ra mẩu tin đó từ trước khi tôi giở tờ báo?

Tò mò, tôi quyết định làm một cuộc thử nghiệm. Tôi mở phía trong tờ Thời báo Seattle ra, mà tôi chắc chắn rằng Ted chưa nhìn thấy trước đó, sau đó gấp tờ báo lại cẩn thận để nửa trên tờ báo hướng về phía tôi.

– Con có thể đọc cái này được không, Ted?- Tôi chỉ vào một mẩu quảng cáo nhỏ.

– Bán thanh lý, giảm đến 70 %! % là gì hả bố?- Ted hỏi lại, vì con không hiểu được hai số không nhỏ trong ký hiệu phần trăm (%).

– Đọc tiếp cái này nào!- Tôi kiểm tra tiếp. Và cho dù tôi có chỉ chữ ngược chiều kiểu nào chăng nữa, Ted cũng dễ dàng đọc được như thể con đang đọc tờ báo xuôi chiều vậy.

Tôi mở một trang khác và chỉ và các chữ đang xoay ngang tờ báo.

– Con có thể đọc được không?- Tôi ngồi và quá đỗi ngạc nhiên khi Ted tiếp tục đọc to lên, với tốc độ đọc như thường lệ, chỉ vấp khi gặp phải những từ lạ.

– Vào phòng ăn với bố nào- Ted đi theo tôi và chúng tôi đứng trước một chiếc gương lớn. Mặt Ted hướng vào hình ảnh của con trong gương. Tôi giữ tờ báo hướng về chiếc gương.

– Giờ thì đọc nào- Tôi giục. Ted lại bắt đầu, dễ dàng và bình thản.

Đơn giản vì nó không gây khó khăn gì cho Ted. Ted có thể đọc dù chữ viết có ở vị trí nào. Ted quay trở lại bàn ăn sáng và tôi thì ngóng đợi kể cho Sara về khả năng phi thường ở con trai chúng tôi.

Tối đó, chúng tôi đã nói chuyện về khả năng đáng ngạc nhiên ở Ted, khả năng có thể nhận biết chữ viết, kiểu dáng và hình thù ở bất cứ vị trí nào. Dẫu rằng chúng tôi chưa từng mong đợi thấy con đọc theo kiểu đó, nhưng chúng tôi nhớ ra là chúng tôi đã từng nhìn thấy những ví dụ khác về khả năng hình học của Ted trước đó và chúng tôi đã bỏ qua.

Giống như Sumner, Ted có thể lắp ráp các hình trong trò chơi ghép hình. Cả hai đều có khả năng nhận ra vị trí những miếng ghép hình thù kỳ lạ có thể lắp vừa. Dường như cả hai có thể ghép các miếng riêng rẽ lại với nhau đơn thuần chỉ dựa vào hình thù, trong khi các thành viên còn lại trong gia đình phụ thuộc vào màu sắc hoặc hình vẽ trên miếng ghép.

Sara và tôi thực sự ngạc nhiên. Con trai chúng tôi đã phát triển một khả năng đặc biệt mà không cần ai dạy, thậm chí chúng tôi còn chẳng biết đến. Tuy nhiên, tôi bắt đầu tự hỏi liệu khả năng đó có nên được coi là một tài sản quý giá hay không. Có phải khả năng khác biệt trong định hình vật thể đã làm khó cho những nhận thức khác của con, đồng thời cũng giúp Ted giải mã được trò chơi và đọc các mẩu chữ xuất hiện ngược chiều hay từ phía sau?

Tất cả chúng ta đều dựa vào cách định hình thông thường của mắt nhìn để nhận ra vật thể. Giống như hầu hết mọi người, tôi không thể nhận ra chính tôi trong bức ảnh trừ khi tôi giữ chúng đúng theo chiều từ trên xuống và từ phải sang. Tôi nhìn vào hình ảnh và mong rằng vật thể sẽ xuất hi?n theo đúng trật tự thông thường c?a chúng. Định lý vạn vật hấp dẫn đã chỉ ra rằng, mọi vật đang rơi sẽ luôn rơi xuống dưới, không bao giờ rơi lên trên hay rơi ngang.

Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu thế giới của Ted không có một phương hướng cố định? Điều gì sẽ xảy ra nếu vị trí của các vật thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên, không đoán định, hoặc thậm chí quay tròn? Tôi không biết nên hỏi Ted một câu hỏi phức tạp như vậy bằng cách nào.

Ngay sau khi phát hiện ra khả năng đọc đặc biệt của Ted, chúng tôi tổ chức một bữa ăn tối tại nhà cho các thành viên của Tổ chức dành cho người Tự kỷ. Như thường lệ, các phụ huynh sẽ chia sẻ những câu chuyện thú vị về con cái họ. Khi tôi kể cho họ là tôi đã khám phá ra khả năng hình học của Ted như thế nào, hai trong số khách mời đã tường thuật lại những câu chuyện tương tự.

Một người đã đọc một báo cáo của một nhà nghiên cứu cho rằng, nhiều người tự kỷ có thể hoàn thành trò chơi ghép hình nhanh hơn nếu các miếng ghép được quay mặt màu xám lên trên và mặt có hình được úp xuống dưới. Rõ ràng là họ phản ứng tốt hơn với những vật thể có hình thù đơn thuần trong trường hợp không bị màu sắc hay hoa văn trang trí làm phân tán.

(còn nữa)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s